Chè Hoa Vàng quý hiếm ở Thái Nguyên

68

VNTN – Chè Thái Nguyên đã nổi danh từ lâu. Trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, thời vua Tự Đức (1848 – 1883) các sử gia triều Nguyễn ghi chép các tỉnh có trà là: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Thanh Hóa, Quảng Nam, Bình Định. Phần thổ sản của Thái Nguyên sách cũng ghi chép như sau: “Chè nam: Sản ở các huyện Phú Lương, Động Hỷ, Đại Từ, Phổ Yên vị ngon hơn chè các nơi khác”. Như vậy vào thời đó Thái Nguyên có đến bốn huyện có chè và có thể nói là nơi nhiều chè nhất cả nước. Nhưng quan trọng hơn cả là các sử gia triều Nguyễn đã rất tỷ mỷ, tinh tế khi lấy vị chè ngon hơn các nơi khác để khẳng định, để so sánh tính nổi trội của chè Thái Nguyên. Đối với chè, vị chính là linh hồn. Vị có ngon thì chè mới ngon. Vị là tố chất tinh túy nhất của chè. Vị của chè được cảm nhận từ tiền vị – hậu vị và dư vị. Có thể nói sự hấp dẫn của chè Thái Nguyên là do cái vị tinh túy đặc biệt quý giá của chè đem lại. Hương thơm của chè cũng rất quý giá, nhưng người ta có thể tạo ra hương từ hoa, quả, tinh dầu có mùi thơm theo sở thích của mình. Còn vị thì không thể thay thế được. Nếu tạo ra vị mới trong chè, thì chè đó không còn nguyên chất nữa. Đó là một loại đồ uống khác có thành phần của chè.

Đến năm 1935, nhãn hiệu chè “Cánh Hạc” của ông Đội Năm ở Tân Cương đã đạt giải nhất cuộc thi chè tại Đấu Xảo Hà Nội. Từ đó, chè Thái được các thương gia người Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc… mang đi buôn bán khắp nơi ở trong nước và quốc tế. Những năm gần đây nhãn hiệu “Chè Đinh” của ông bà Thắng Hường ở Tân Cương lại nổi danh vang dội. Chè Đinh không chỉ ngon nức tiếng mà giá cả cũng cao ngất ngưởng. Thực sự chè Thái Nguyên đã hội tụ đủ “ngũ quý” của chè ngon đó là: “Sắc – Khí – Hương – Vị – Thần”. Điều đó khẳng định chè Thái Nguyên đạt đến chuẩn mực cao của nghệ thuật ẩm thực Việt Nam. Cho nên dân gian truyền tụng “Thái Nguyên đệ nhất danh Trà” hay “Thái Nguyên danh trà đất Việt”.
Còn chè Hoa Vàng thì sao? Có lẽ do sự nổi tiếng của chè truyền thống, chè trung du, chè công nghiệp và các giống chè ngon, chè lạ được nhập từ nước ngoài về làm người Thái Nguyên quên mất chè Hoa Vàng? Chè Hoa Vàng là loại quý hiếm vào loại bậc nhất của các loại chè trên thế giới. Hiện nay chè Hoa Vàng là loại cây quý hiếm nằm trong sách đỏ của “liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế”, nó phát triển trên phạm vi hẹp, chỉ có nhiều ở Trung Quốc và Việt Nam.
Theo tài liệu nghiên cứu của GTZ – cơ quan nghiên cứu của chính phủ CHLB Đức có phạm vi hoạt động toàn cầu, là tổ chức hợp tác kỹ thuật được tài trợ chính của Bộ hợp tác kinh tế và phát triển Liên bang Đức (BMZ) của các tổ chức quốc tế như Ủy ban châu Âu, Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới và một số tổ chức cá nhân, thì từ năm 1993 GTZ đã phối hợp với các cơ quan đối tác Việt Nam quan tâm phát triển, bảo tồn giống chè Hoa Vàng ở Vườn quốc gia Tam Đảo và nghiên cứu ở một số vùng khác trên đất nước.
Qua thời gian càng thấy rõ giá trị của chè Hoa Vàng. Nó là “nữ hoàng” của các loại chè. Không chỉ là cây đồ uống quý giá, chè Hoa Vàng còn có thể làm thuốc nhuộm thiên nhiên, cây cảnh, làm dầu ăn và là cây dược liệu quý báu có giá bán chỉ sau sừng tê giác. Trong trà Hoa Vàng có chứa các nguyên tố như: Se, Ge, Mo, MN, V, Zn rất có lợi cho sức khỏe. Trà Hoa Vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u, giảm hàm lượng cholesterol trong máu, chống sơ cứng động mạnh, chống huyết áp cao, giảm lượng đường trong máu đối với bệnh nhân tiểu đường, phòng chống ung thư, gây hưng phấn thần kinh, lợi tiểu, chống ô xi hóa, ức chế và tiêu diệt vi khuẩn, tiêu viêm, chống dị ứng…

Toàn thân cây chè

Theo tiến sỹ John Welsburger là thành viên cao cấp của tổ chức sức khỏe Hoa Kỳ thì: “Dường như những thành phần chứa trong loại trà này có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, trụy tim và ung thư”. Còn theo tiết lộ của một số thầy lang có tiếng thì chè Hoa Vàng là một trong những vị chính, vị quan trọng nhất trong bài thuốc dân gian phòng chống bệnh nan y.
Qua khảo sát thì chè Hoa Vàng hay mọc tự nhiên trong rừng, nơi có độ ẩm cao, có khí hậu mát mẻ. Cây chè thường mọc dạng bụi hoặc cây gỗ nhỏ, đa số chỉ cao từ 3 mét đến 6 mét, vỏ cây trắng, xám. Đặc biệt là những bông hoa chè có màu vàng rực rỡ, cánh hoa trong mờ như phủ một lớp sáp mỏng mịn màng. Hoa chè thường nở từ mùa đông đến mùa xuân với những bông hoa chè hình chén xinh đẹp và thanh lịch mọc đơn độc hay từng chùm ở nách lá. Và chính từ những vẻ đẹp tuyệt ấy nên nó được mệnh danh là “nữ hoàng” của tất cả các loại chè.

Hoa và búp non

Năm 2002 PGS. TS. Trần Ninh đã công bố trên tạp chí chè Quốc tế 50 loài chè ghi nhận có mặt ở Việt Nam. Trong đó có 12 loài chè có ở Vườn quốc gia Tam Đảo. Theo chúng tôi được biết ở Thái Nguyên có một số loài chè Hoa Vàng như: Trà Vàng lá dày (Hakod et -ninh), Trà Vàng ginbec (Seaby), Trà Vàng Hakoda (lấy tên của giáo sư Taoschi Hakoda trường Đại học Nông nghiệp Tokyo – Nhật Bản), Trà Vàng nhiều lông (Hakoda – ed ninh), Trà Vàng phan (Hakoda – ed ninh), Trà Vàng Tam Đảo (Hakoda – ed ninh) và có thể còn một số loại chè Hoa Vàng khác (?).
Thời gian qua chúng tôi đã đi điền dã và tìm kiếm thì thấy chè Hoa Vàng có mặt ở khắp nơi trong tỉnh Thái Nguyên. Đặc biệt nó phân bố nhiều ở sườn đông dãy núi Tam Đảo và một số nơi ở thuộc huyện Định Hóa, Phú Lương và Võ Nhai.
Thì ra từ lâu người dân Thái Nguyên đã biết đến chè Hoa Vàng và nhiều người đã thu hoạch hoa, lá, đào đốn cây để bán sang Trung Quốc. Với cơn sốt cây cảnh độc, gần đây người dân lại tìm kiếm những gốc chè cổ, bán cho một số nhà vườn ở Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Hà Nội… Cho đến nay chè Hoa Vàng ở Thái Nguyên chẳng còn lại bao nhiêu và có lẽ sắp đến ngày tuyệt chủng.
Từ xưa đến nay Thái Nguyên nổi tiếng với chè ngon, chè lạ, chè siêu đắt. Chẳng lẽ chúng ta cứ vô tình làm ngơ hay lãng quên trước một sản vật quý hiếm bậc nhất này? Các tỉnh bạn đã có trang trại chè Hoa Vàng, có khu sinh thái chè Hoa Vàng, có vườn dược liệu, có vườn chè Hoa Vàng, có các sản phẩm từ chè Hoa Vàng để bán. Còn “nữ hoàng” chè Hoa Vàng ở Thái Nguyên sao cứ mãi ngủ quên?.

Mông Đông Vũ