Chữ ký và mật khẩu

201

Những vụ mất tiền trong tài khoản ngân hàng cá nhân liên tiếp xảy ra trong vài năm gần đây khiến nhiều người lo lắng. Con số bị đánh cắp dù là hàng trăm tỷ của một đại gia hay vài chục triệu tiền lương của anh công nhân thì cũng đủ để tạo nên bi kịch khủng khiếp cho người trong cuộc. Bản thân các ngân hàng mắc vào “tai nạn” ấy cũng lao đao, không chỉ bởi việc đối diện với pháp lý mà còn bởi sự giảm sút uy tín nghiêm trọng. Người dân khó tránh khỏi lăn tăn trước việc giao cả cơ nghiệp vào nơi mà trong mắt họ là đầy rủi ro. Nhưng điều đáng nói là, theo kết quả của cơ quan điều tra thì hầu hết sự vụ đều bắt nguồn từ sơ hở của chính nạn nhân, khi chủ quan ký tên vào tờ giấy trống hay tùy tiện cung cấp mã pin (mật khẩu) cá nhân cho người khác bất chấp khuyến cáo của ngân hàng ngay từ lần đầu tiên mở tài khoản. Coi thường giá trị pháp lý của chữ ký, thờ ơ với mã số bí mật cá nhân là tâm lý, thói quen nguy hiểm của rất nhiều người Việt, biến cái “tiện” nhỏ thành hậu họa khôn lường, không chỉ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Chữ ký là sự xác nhận quan trọng để cá nhân chịu trách nhiệm trước thông tin. Mật khẩu là “câu thần chú” bí mật để mở cánh cửa cho duy nhất vị chủ nhân của mình. Mặc dù hoàn cảnh sử dụng không giống nhau, nhưng có thế nói, chữ ký và mật khẩu đều là phương tiện cơ bản để thiết lập hàng rào bảo vệ cá nhân. Vì thế, nguyên tắc số một dành cho mỗi người là bảo vệ chữ ký riêng và giữ gìn mật khẩu, ngay cả đối với những người ruột thịt thân cận nhất. Thế nhưng vẫn có chuyện, ở công ty X, mọi người làm việc theo nhóm, và cả nhóm đều biết cách ký… chữ ký của nhau, bởi trong quá trình làm việc, nhiều khi cần một sự “điểm chỉ” mang tính thủ tục thì ký hộ là cách tiện nhất. Ở đơn vị Y có chị A vừa sinh con, nghỉ chế độ ở nhà. Mỗi lúc phải hoàn thiện giấy tờ cần chữ ký “tươi” chị lại lập tức gọi điện cho đồng nghiệp với lời đề nghị: “Em gửi email tờ khai, anh cứ in và ký hộ em. Chữ ký mẫu em đã chụp ảnh, gửi inbox cả rồi, anh cứ lưu vào, cần là có thể… Dùng ngay”. Để dễ bề nhờ vả khi cần đến, một nhóm đồng nghiệp trong cơ quan Z thống nhất với nhau là đơn giản hóa chữ ký, sao cho ai cũng có thể bắt chước lúc cần. Họ đồn nhau, rằng chị T ở phòng bên cực giỏi nhại chữ ký, cần gì, cứ sang nhờ một câu, đến chữ ký của Donald Trump cũng có ngay lập tức. Mọi người vì thế mà trọng dụng, ngưỡng mộ chị T lắm lắm…
Câu chuyện mật khẩu cũng diễn ra tương tự. Máy tính cơ quan chi chít các email chọn chế độ “nhớ mật khẩu” bởi mọi người tặc lưỡi: “Làm vậy truy cập cho nhanh, hộp thư toàn thông tin hành chính, ma nào thèm vào mà trộm cắp tư liệu”. Trường học vùng cao mới thực hiện trả lương qua thẻ, mấy cô giáo nhiều tuổi ngại học cách giao dịch, cứ giao cả thẻ, cả mã pin cho cô kế toán. Vợ chồng, anh em coi việc công khai mật khẩu các loại tài khoản cá nhân như một cách thể hiện niềm tin và sự “trong sạch, minh bạch”. Trước đám đông, chuyện người ta gọi điện cho nhau để xin mật khẩu vào hộp thư cá nhân lấy tư liệu là điều không hy hữu… Tất cả diễn ra một cách tự nhiên, cho đến lúc tai nạn xảy ra thì người ta mới giật mình: “Hôm ấy cô nhân viên ngân hàng bảo hết giờ rồi nên cứ ký tên vào đây, mọi thủ tục hết giờ em sẽ hoàn tất nốt”; “Tài khoản của tôi, hai ba người bạn thân cũng thường hay ra vào, giờ biết nghi ai”; “Thẻ ATM của tôi đặt mã pin kín đáo lắm, chỉ có người thân trong gia đình hay đi rút tiền hộ mới biết thôi”, “Tôi cứ ngẫu hứng lên là thay đổi chữ ký, giờ không nhớ chính xác chữ ký của mình như thế nào, đây liệu có phải chữ ký khống không nữa”…
Thói quen ký và công khai mật khẩu bừa bãi một phần bắt nguồn từ nguyên nhân lịch sử, khi mà người Việt không có ý niệm về quyền riêng tư cá nhân, cùng với một ý thức lỏng lẻo về pháp lý. Nhưng trong xã hội văn minh, càng ngày, những yếu tố mang tính chất “mật mã” như vậy sẽ càng phổ biến. Nó là công cụ bảo vệ con người, nhưng sẽ bỗng chốc chúng biến ta thành nạn nhân, thậm chí thành “thủ phạm” phải chịu trách nhiệm trước giấy trắng mực đen, nếu không biết gìn giữ.

Thái Văn