Đêm trong khách sạn

151

Người nhân viên trực đêm vuốt vuốt quyển sổ bằng đôi bàn tay thô ráp và nhún vai tỏ ý lấy làm tiếc.
“Ông chỉ còn sự lựa chọn này thôi”, người nhân viên trực đêm nói, “muộn thế này rồi sẽ không có khách sạn nào còn phòng đơn để ông thuê đâu. Tất nhiên ông có thể hỏi thuê phòng ở những khách sạn khác. Nhưng bây giờ tôi đã có thể nói cho ông biết rằng chúng tôi sẽ không giúp gì được cho ông, nếu như ông quay lại khi không thuê được phòng. Bởi lúc ấy suất còn trống ở trong phòng đôi mà ông không muốn thuê – tôi không hiểu được tại sao – cũng đã có người thuê rồi.”
“Thôi được”, Schwamm nói, “tôi sẽ thuê phòng đó. Tôi chỉ muốn biết tôi thuê chung phòng với ai. Người ở cùng phòng với tôi đã ở trong phòng rồi chứ?”
“Vâng, ông ấy đã ở trong phòng và đang ngủ.”
“Đang ngủ”, Schwamm nhắc lại, nhận, điền tờ khai và đưa nó trở lại cho người nhân viên trực đêm; sau đó anh ta đi lên phòng.

Minh họa: Đào Tuấn

Sau khi tìm một lát Schwamm tìm thấy căn phòng dành cho mình. Anh ta vặn tay nắm cửa, đi vào phòng, đóng cửa lại và lấy tay sờ soạng tìm công tắc điện. Lúc đó anh ta đột nhiên dừng lại. Có ai đó đứng ở cạnh anh ta, nói bằng giọng ồm ồm, cương quyết: “Đừng! Xin ông đừng bật điện. Tôi sẽ biết ơn ông, nếu ông cứ để phòng tối như thế này.”
“Ông đã đợi tôi à?” Schwamm hoảng sợ hỏi. Thay vì trả lời, người đó nói: “Ông hãy cẩn thận để khỏi vấp phải hai cái nạng của tôi và cái va li tôi để ở khoảng giữa phòng nhé. Tôi sẽ hướng dẫn ông đi vào giường mình một cách an toàn: Ông hãy bước ba bước dọc theo, sát với tường, sau đó ông xoay người sang bên trái, và nếu ông lại bước ba bước nữa thì ông có thể sờ thấy giường.”
Schwamm làm theo. Anh ta vào giường của mình, cởi quần áo và nằm xuống. Anh ta nghe thấy hơi thở của vị khách ở cùng phòng và cảm thấy rằng ông ta chưa thể ngủ thiếp đi.
“À mà này!” anh ta lưỡng lự một lát, nói, “Tên tôi là Schwamm.”
“Thế à!” người đó nói.
“Vâng.”
“Ông đi dự hội nghị ở đây à?”
“Không. Còn ông?”
“Tôi cũng vậy.”
“Ông đi công tác à?”
“Không, không thể nói là đi công tác được.”
“Đương nhiên tôi có lý do riêng mà ai cũng có khi thuê phòng ở khách sạn”, Schwamm nói.
“Ông muốn tự tử ở trong khách sạn à?” người kia hỏi.
“Chúa ơi! Không. Tôi có một cậu con trai, ông… (người kia không xưng tên), một cậu con trai nhỏ, lanh lợi, và vì nó tôi đã vào đây.”
“Nó nằm viện à?”
“Tại sao lại nằm viện? Nó khỏe mạnh, có thể nó hơi xanh xao, nhưng nói chung là nó rất khỏe mạnh. Chỉ có điều, nó rất nhạy cảm, nhút nhát. Nó sợ ngay cả khi bị một bóng đen che.”
“Vậy thì nó còn nằm viện rồi.”
“Ồ, không mà!” Schwamm phát cáu, “tôi đã nói rằng nó khỏe mạnh, về mọi mặt. Nhưng nó đang bị nguy hiểm, con trai tôi có một tâm hồn mong manh dễ vỡ, và vì vậy nó dễ bị tổn thương.”
“Tại sao nó không tự tử?” người kia hỏi.
“Làm sao mà nó phải tự tử! Một đứa trẻ còn ít tuổi như nó thì cớ gì phải tự tử! Ông hãy nghe đây, con trai tôi bị nguy hiểm vì lí do sau: Mỗi sáng, nếu nó đi học – hơn nữa nó luôn đi một mình đến trường, nó phải dừng lại trước một thanh ba-ri-e và đợi cho đến khi chuyến tàu sớm chạy qua. Nó, một cậu bé, đứng ở đó và vẫy tay; hăng hái, niềm nở vẫy tay rồi thất vọng.”
“Và sau đó?”
“Sau đó”, Schwamm nói, “sau đó nó đi đến trường. Và nếu như nó về nhà thì nó im lặng và buồn bã. Thỉnh thoảng nó còn gào lên. Nó không thể làm bài tập về nhà, nó không muốn chơi và chẳng nói chẳng rằng. Từ nhiều tháng nay đã như thế rồi, ngày nào cũng vậy. Do đó tôi rất lo lắng cho nó.”
“Điều gì đã làm cho nó cư xử như vậy?”
“Ông biết không”, Schwamm nói, “điều lạ lùng là: Con trai tôi vẫy tay, và khi nó tỏ ra buồn rầu thì vẫn không có ai trong số hành khách đi tàu vẫy tay đáp lại nó. Điều đó làm nó tổn thương, cho nên chúng tôi – tôi và vợ tôi – đang rất lo. Nó vẫy, và không ai vẫy đáp lại; dĩ nhiên người ta không thể ép buộc hành khách làm việc đó, và sẽ thật phi lý và nực cười nếu đề nghị họ làm việc đó, nhưng…”
“Và thế là ông, ông Schwamm, ông sẽ kết thúc nỗi đau khổ của con trai mình bằng cách sáng mai sẽ đi chuyến tàu sớm để vẫy lại cậu bé, đúng không?”
“Vâng, đúng thế”, Schwamm đáp lại.
“Tôi không quan tâm đến trẻ con”, người kia nói. “Tôi căm ghét chúng và không thèm nhìn mặt chúng. Bởi, cũng vì muốn có con – nếu đúng như người ta nói – mà tôi đã mất vợ. Bà ấy đã chết ngay trong lần sinh nở đầu tiên. Ông định đi Kurzbach, phải không?”
“Vâng.”
“Và ông đã không cân nhắc kỹ khi lên kế hoạch, đúng không? Nói thẳng ra là: Ông không xấu hổ khi lừa dối con trai mình hay sao? Vì những gì ông đang dự định làm thì ông phải thừa nhận đó là một sự lừa dối, một sự lừa dối trắng trợn.”
Schwamm nổi nóng, nói: “Ông bảo tôi lừa dối ai? Ông nói năng kiểu gì vậy? Ông coi chừng đấy!” Anh ta kéo chăn trùm qua đầu, nằm im ngẫm nghĩ một lúc, sau đó ngủ thiếp đi.
Khi Schwamm thức giấc vào sáng hôm sau, anh ta nhận thấy rằng chỉ có một mình anh ta đang ở trong phòng. Anh ta nhìn đồng hồ và giật mình: Năm phút nữa là chuyến tàu sớm sẽ chạy, không còn đủ thời gian để anh ta kịp chuyến tàu.
Buổi chiều, Schwamm buồn bã và thất vọng đi về nhà. Cậu con trai của anh ta vui mừng hớn hở ra mở cửa cho anh. Nó lao tới ôm bố, đấm đấm vào chân bố và reo lên:
“Có một người đã vẫy lại con, ông ấy đã vẫy rất lâu.”
“Ông ấy vẫy bằng cái nạng à?”
“Vâng, bằng một chiếc gậy. Và lúc cuối ông ấy còn buộc khăn mùi xoa vào đầu chiếc gậy, thò chiếc gậy ra ngoài cửa sổ cho đến khi con không thể nhìn thấy chiếc khăn nữa.”.

Truyện ngắn. Siegfried Lenz (Đức)

Phạm Đức Hùng
(Dịch từ nguyên bản tiếng Đức)