Trà ngấm vào thơ, thơ đượm trong trà (kỳ 2)

448

(tiếp theo kỳ trước và hết)

Trà đạo Nhật với thơ haiku
Đến cuối thế kỷ 12, tiếp thu văn hóa trà từ Trung Hoa, các thiền sư Nhật đã chuyển hóa việc dùng trà bình thường sang nghi lễ chuẩn bị và phong cách thưởng thức trà xanh và đã khai sinh ra Trà đạo. Như một cuộc cách mạng trong các phương pháp tu thiền, trà đạo trở thành một đạo lý, một mỹ học mang bản sắc thuần Nhật; đó là, đầu tiên phải nhập mình vào thiên nhiên, thứ đến tu chỉnh tâm nuôi dưỡng tính và cuối cùng giác ngộ. Tức, trà đạo có nhiều nét tương đồng với thiền tông.
Và như thế, sau thiền tông, trà đạo đã chuẩn bị như một “VIP” tham gia vào thơ haiku được ra đời vào thế kỉ 17 như một quốc hồn quốc túy Nhật về văn học. Thiền sư thi sĩ xuất chúng Matsuo Basho chính là cha đẻ thể thơ ngắn nhất thế giới đó, với thông thường chỉ 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5.
Đã đến lúc cống hiến bạn đọc một điều tra thú vị: Theo tuyển chọn kèm bản dịch của Thái Bá Tân với 800 bài haiku của Basho, chúng tôi “mò” ra cả thảy 17 bài có trà là nhân vật, đối tượng chính (còn với rượu là 10 bài). Thật ngẫu nhiên ở con số 17 – số xương cốt làm nên một bài haiku. Dưới đây là toàn bộ 17 lần Basho “dùng trà”, được đánh số lần lượt theo trình tự của nguồn chọn bmmua.com:
1. “Uống trà sáng/ Nhà sư/ Lặng im như hoa cúc.”; 2. “Bên chén trà buổi sáng/ Sư thanh thản, lòng thiền/ Hoa cúc nở.”; 3. “Núi Phú Sĩ/ Như con bọ chét trên nắp/ Chiếc cối nghiền trà.”; 4. “Sống thanh đạm/ Người ngắm trăng cô đơn/ Hát về trà Nara.”; 5. “Gật gù trên lưng ngựa/ Tít trên cao trăng ngái ngủ/ Mờ mờ như khói trà sớm.”; 6. “Cái vồ đập đất/ Vốn là cây hoa trà/ Hay cây mận?”; 7. “Năm, sáu người/ Ngồi uống trà, ăn bánh/ Bếp lửa.”; 8. “Mở ấm trà/ Lại nhớ/ Vườn Sakai.”; 9. “Đường tới Sugura/ Hoa cam/ Có mùi trà mới.”; 10. “Sắp thu/ Các trái tim xích lại gần hơn/ Khi đến phòng trà này.”; 11. “Gió nhẹ thổi từ sông/ Chè ngon, rượu ngon/ Đêm trăng cũng đẹp.”; 12. “Người hái chè không biết/ Với những cây chè/ Họ là ngọn gió thu.”; 13. “Ngồi nghỉ trong bóng cây/ Những người hái chè/ Nghe tiếng chim cu đang bay.”; 14. “Lều tranh đơn sơ/ Lá chè vò xong/ Giông cũng tan.”; 15. “Nhặt chè chưa?/ Đừng quên ủ héo/ Những đợt gió thu.”; 16. “Hoa vàng ở Uji/ Thơm/ Như mùi lá chè sao trên lửa nhỏ.”; 17. “Tự giấu mình như thế/ Người hái chè/ Có nghe tiếng chim cu?”.
Đồ của đại sư tổ phải “chuẩn không cần chỉnh” rồi! Song thú thiệt có đến non nửa khiến kẻ hèn (lại lười tra cứu) là chúng tôi chưa hiểu, tỉ như các bài có địa danh. Có 3-4 bài tâm phục khẩu phục (Các bài số 1; 6; 14). Cũng ngần ấy bài “vừa”, theo kiểu “Bài hay xen lẫn với bài vừa” (7; 11). Chưa thấy bài nào kiệt tác kiểu như bài “Con ếch” làm nên thi hiệu Basho.

Trà, ông tơ bà nguyệt
Trà là chính chủ cho đám hỏi, lễ cưới. Các nhà thơ còn nhìn thấy vật báu mộc mạc này có mặt trên từng cây số đường tình duyên.
Đệ nhất thượng đẳng thơ-tình-chân-quê Nguyễn Bính với thi phẩm “Trăng sáng vườn chè” đã dùng “vườn chè” như một không gian nghệ thuật để đan dệt tính đảm đang, thu vén giữa giấc mộng trăm năm nuôi chồng đi thi của người phụ nữ xưa. Trong khuôn khổ 9 cặp lục bát không thể hoàn hảo hơn về kỹ thuật vần điệu, thi đoản thời Thơ mới Âu hóa tràn ngập nước Nam sao mà như áng văn vần dân gian thiên thu Việt! Dẫu đã nằm lòng mỗi chúng ta, vẫn muốn dẫn lại 2 câu đầu, 4 câu giữa và 2 câu cuối: “Sáng trăng sáng cả vườn chè/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau (…) Chồng tôi thi đỗ khoa này/ Bõ công đèn sách từ ngày lấy tôi (…) Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa/ ‘Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng’ (…) Đêm nay mới thật là đêm/ Ai đem trăng sáng giãi lên vườn chè.”
Các nhà trữ tình ở thời “hẹn hò cà phê chát chít” cũng không thể nào bỏ qua trà. Hơi ngoa chút xíu, Nguyễn Đức Hạnh dựng lên hình ảnh độc đáo: không gian chè lan tỏa quấn quýt như chiếc khăn người yêu trao gửi: “Chọn hương chè làm khăn quàng cổ/ Nên thương ai thơm ngát trọn đời.” Trong khi với Dương Đăng thì”Em như búp trà nhỏ/ Ta củi lửa thêm hương/ Đông về giăng sương trắng/ Bên em, lạc cung đường.” Nàng là búp trà, chàng là củi lửa; không nên duyên mới lạ! Già dặn và đau đời hơn, như Hoàng Năng Trọng: “Ví không sánh chát từ xanh tóc/ Đâu dễ dư hương đến bạc đầu/ Trăm tuổi người đi trà ở lại/ Khói sương lãng đãng để bền lâu.” Đời người đấy hay đời trà đây?

Trà, bàn tay bạn hữu
Khách đến mời trà là phong tục phổ biến của rất nhiều dân tộc, từ Á qua Âu. Với văn hóa Trung Hoa, “khách lai kính trà” là một mĩ tục đạt đến tầm nghệ thuật. Ở nước ta cũng gần vậy. “Chén trà là đầu câu chuyện”. Uống trà kết bạn, chuyện trò giao hảo, trong nhà ngoài ngõ… Thơ không thể bỏ qua, vì tại các hội ngộ có không ít người thơ.
Trong “Ngũ ngôn nguyệt dạ xuyết trà liên cú” đời Đường thấy câu: “Phiếm hoa yêu tọa khách/ Đại ẩm dẫn thanh ngôn.” (“Mời bạn đến nhà thưởng hoa/ Lấy trà thay rượu cùng nhau trò chuyện.” Lại dính đến rượu rồi! Viên Chiếu, một trong 7 vị thiền sư thuộc hệ 7 dòng Vô Ngôn Thông, cũng là anh em họ với vua Lý Thánh Tông có hai câu thơ được đời sau dịch lại: “Tiễn chân ai bước đường xa/ Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau”. Hay thế! Cao đẹp quá, và tài quá, tình quá! Dễ hình dung, “chân” và “miệng” là hai hoán dụ đối ngẫu trong câu lục câu bát. Thoắt, cả cái bình trà (đâu phải nhỏ gọn) lại có thể nở hoa trên miệng. Miệng hoa, bởi tâm hoa. Hành vi tặng bình trà vụt trở nên sang cả. Nhớ ca dao “Mình về mình nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.”

Thi bá thời hiện đại với Bàn Thành Tứ Hữu lừng danh một thuở là Quách Tấn đã hạ những câu trở thành kinh điển: “Hương trà chưa cạn chén hàn ôn/ Thuyền đã buông theo tiếng sóng dồn/ Ngắm vợi mây thu ùn mặt biển/ Gác chuông thành cổ đọng hoàng hôn”. Đủ thấy trà là nhân vật lớn trong cuộc chia ly bằng hữu trước trời thu biển rộng thành sâu. Như trong những “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn” (Bà Huyện Thanh quan), “Tiệc rồi giãi chuyện hàn ôn/ Gấm chen vẻ quý, rượu ngon giọng tình.” (Nhị Độ Mai), “chén hàn ôn” là cụm từ mà đám tuổi teen thời a-còng kêu là “ngồi cà-phê tám chuyện thời tiết”.
Hậu sinh cứ thế mà theo: “Thèm bấy lâu nay một ngụm trà/ Ngóng người tri kỷ tận nơi xa/ Hương trà xứ ấy lòng còn lắng/ Dẫu có bao xuân vị chẳng nhòa.” (Đăng Học).
“Nhà lá đơn sơ/ Tấm lòng rộng mở/ Nồi cơm nấu dở/ Bát nước chè xanh/ Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau.” Về thi điệu đúng là “nhịp hải hà”. Nào cần chi “đáy đĩa”, chỉ là “nồi cơm”, “bát nước”. Hoàng Trung Thông, nhà thơ đại biểu thời cách mạng, vốn tinh thông văn hóa truyền thống Hán-Việt, đã lưu được “bát nước chè xanh” vào kho tàng văn học trong những tháng năm sau toàn quốc kháng chiến bằng hình ảnh và bút pháp dung dị nhất, Việt tính nhất.
Cũng thế, lá cờ đầu thơ ca cách mạng và chiến tranh Tố Hữu để đời qua những vần thơ thấp thoáng cây chè Việt trong năm hòa bình vừa về lại trên hai nửa Tổ quốc: “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi/ Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt/ Nắng chói sông Lô, hò ơ tiếng hát/ Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca.”

Trà, hạnh phúc nhàn tản
Nếu định nghĩa hạnh phúc là nhàn tản thì uống trà sẽ đến hạnh phúc nhanh và dễ nhất.
“Thi sĩ thảo dân” Nguyễn Duy đã nhìn ra, qua những người khách lạ trưa hè tạt quán nhỏ đường trường hay bà mẹ quê gập lưng còng miệng cười móm mém nhai trầu trước hiên nhà ngóng con; “Nước chè tươi rót vàng mơ/ Đôi khi hạnh phúc đơn sơ vô cùng.” Cũng như thế những căn nhà dù tồi tàn cô quạnh hay gác tía lầu phượng đều có thể trở nên sống động trong chốc lát, vì “Mỗi sớm pha ấm trà/ Niềm vui đến chật nhà.” (Phạm Thuận Thành).

Trà và thi sĩ, văn nhân
Trong trà có chất thơ, có người thơ. Kể về việc thơ những khi dùng trà là điều dễ dàng với thi sĩ.
Ông tổ Đông y Việt Nam, và cũng là nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có những vần thơ tâm đắc về trà: “Danh trà yêu khách ẩm/ Đàm tiếu xuất hương yên. (Mời khách uống thứ trà ngon/ Nói cười thoảng hương bay.”) Luật nhân quả về giao đãi giữa văn nhân, nhận vào mình thức ngon quý từ bạn hiền thì hành vi phát ra nên đẹp đẽ. Hay: “Trà biết thi hoa thiểu/ Cầm dư khách tứ đa. (Hết trà, thơ nghĩ không ra/ Buông đàn nỗi khách lại là chứa chan.”) Thưởng trà ít cũng mươi phút, nhiều là già buổi. Mà thơ chưa chịu về cho, may có tiếng đàn đãi khách thâm tình. Làm thơ khó sao!
Hơn hai thế kỷ sau, có hậu sinh tài năng là Yến Lan trong một bài tứ tuyệt đã nảy tứ thơ tương tự: “Chè đọt đang kỳ điểm lá ba/ Giọt sương lách tách cửa song nhòa/ Thơ ngồi suốt buổi không ra tứ/ Cháu đã đun tràn ấm nước pha.” Trà ngoài vườn thúc giục, trà trong ấm vẫy gọi; thi cảnh bên hiên ám ảnh, đứa cháu ngoan hầu quanh. Sướng bằng giời, thi sĩ vẫn bất lực trước Nàng thơ đỏng đảnh. Âu cũng chuyện thường tình. Của thơ, mà trà rất thấu.
Không bất ngờ khi “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”, cụ ông Tam Nguyên Yên Đổ độc ẩm với tách trà một tay thi tập một tay nhàn tản cùng cây cỏ cảnh quê: “Khi vườn sau, khi sân trước/ Khi điếu thuốc, khi miếng trầu/ Khi trà chuyên năm ba chén/ Khi Kiều lẩy một đôi câu.”
Với văn nhân văn hóa thế giới, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi: “Say mùi đạo, chè ba chén/ Tả lòng phiền, thơ bốn câu.” Lời tiên tri: “lòng phiền” của thi nhân mà “chè ba chén” thấu hiểu mãi nhiều thập niên sau mới hiển lộ và nhiều thế kỷ sau chưa hiểu thấu.
Ta hãy dừng lại với Ức Trai. Ngay từ năm 1435, chính con người bách khoa đó đã thảo pho sách “Dư địa chí” với câu khai mở: “Nước ta mới mở gồm có sông núi, phía đông giáp biển, phía tây đến nước Thục, phía nam đến Chiêm thành, phía bắc đến hồ Động đình. (trong hồ có hai quả núi: một núi gọi là Quân sơn, núi ấy sản thứ hồng quất, thứ trà tước thiệt, thứ trúc đồi mồi). Trà tước thiệt là thứ trà nhỏ như lưỡi chim sẻ, đã nổi tiếng từ thời cổ và đã được coi là sản vật quí của nước Việt cổ.”
Cùng “Ức Trai thi tập” là thơ chữ Hán, với “Quốc âm thi tập”, người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm của Việt Nam đã nhiều dịp đưa trà vào thơ như đối tượng thiền vị, để nói lên tư tưởng nhân sinh hài hòa tam giáo Nho, Phật và Đạo. Dưới đây là một số câu thơ tiêu biểu (dẫn theo Huệ Minh và Đỗ Ngọc Quỹ):
“Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng/ Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.”; “Say minh nguyệt, chè ba chén/ Thú thanh phong, lều một gian.”; “Bao giờ lều cỏ núi mây/ Pha trà nước suối, gối say đá mềm.”; “Cuộc lần cờ thấp tan ngày diễn/ Bếp thắng chè thô cởi thuở âu.”; “Mây tỏa đầy nhà mai đốt bách/ Tùng reo quanh gối, tối đun trà.”; “Thắp hương trước án, bên mai lũy/ Quét tuyết đun trà, trước trúc hiên.”; “Chè tiên nước ghín bầu in nguyệt/ Mai rụng hoa đeo bóng cách song.”; “Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng/ Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về.” (Ghín: gánh – theo âm Việt cổ)”; “Cởi tục chè thường pha nước tuyết/ Tìm trong thanh vắng tịn chè mai.” (Tịn: tận, cùng, hết); “Bàn bạc lòng nhàn cái quýt chè/ Đòi thuở khó khăn chăng xuýt ải” (Cái = vợ; nghĩa: khi nhàn không người trò chuyện thì có cây quýt chè làm bạn giải buồn, ra chơi cùng cây chè giống như bàn bạc với vợ; Xuýt ải: xuýt xoa, phàn nàn.)

Trà, ca dao
Là đặc sản văn hóa Việt, vậy ca dao đã “uống trà” thế nào? Ai cũng muốn hỏi vậy. Trả lời nó ít nhất tốn cũng một luận văn tiến sĩ thứ thiệt. Ở đây chỉ đưa ra thống kê nhanh như trên với thơ haiku Basho. Những con số biết nói, dù là nói nhỏ.
Từ bộ sưu tập của Wikiquote (vi.wikiquote.org) “Ca dao Việt Nam” với hơn 650 cặp lục bát, chúng tôi lại “lần” ra được 5 câu về trà (và với rượu là 7) như sau:
1. “Đi đâu mà bỏ mẹ già/ Gối nghiêng ai sửa, tách trà ai dâng.”; 2. “Người ta rượu sớm trà trưa/ Thân em đi sớm về trưa cả đời.”; 3. “Chú tôi hay tửu hay tăm/ Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.”; 4. “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ nồi cơm nguội, nhớ riêu nước chè.”; 5. “Ai về Hà Tĩnh thì về/ Mặc lụa chợ Hạ, uống chè hương sen.”
Đủ các sắc màu tình cảm! Thân thương là câu số 1. Tội nghiệp ở câu 2. Đáng trách với câu 3. Buồn buồn sao câu 4. Vui vui nhỉ câu 5. Ấy thế nhưng, theo hiểu biết chưa đầy đủ của chúng tôi, câu ca dao về trà tuyệt hơn cả được chọn làm đề từ cho toàn bài lại không có trong tuyển chọn này. Nếu có ta sẽ nói: Cao cả như câu 6.

Trà, trường ca
Vào giữa năm 2011 nhà thơ Phạm Văn Sau cho ra mắt tập sách “Lục bát Trà” gồm 4889 câu thơ theo thể lục bát truyền thống. Đây như một “hiện tượng kép”, về nghệ thuật và về nội dung: lần đầu tiên có một công trình tìm hiểu về trà bằng thơ Việt, và cũng lần đầu tiên hình thức thơ trường ca Việt có một tác phẩm lấy trà làm đối tượng văn học. Có thể đây còn là lần đầu tiên trên thế giới, cả về nghệ thuật thơ lẫn về lịch sử trà?
Những câu khai mở: “Thú đời lẫn lộn sạch nhơ/ Chén trà tinh khiết thỏa mơ thú nhàn”, đến các thao tác pha trà: “Ngón hoa nâng ấm xoay nghiêng/ Đường cong hư huyễn phong duyên kín vào/Nghe từng cánh nở xôn xao/ Phút giây giao hội ngạt ngào tỏa hương”. Cứ thế qua 6 chương chỉn chu mang từng chủ đề như một khảo cứu khoa học: Chương 1: “Trà Việt – nôi phát sinh”, Chương 2: “Trà Trung Hoa – nôi phát triển”, Chương 3: “Trà Nhật – nôi thăng hoa trà đạo”, Chương 4: “Tản mạn trà”, Chương 5: “Trà Việt – Trà phong”, Chương 6: “Thần và hồn trà Việt siêu thăng”, tác giả đã suôn sẻ, lôi cuốn và mượt mà kể mọi thứ về trà bằng thơ: từ lịch sử nguồn gốc phát sinh, phát triển đến các giai thoại, điển tích, những nhân vật nổi tiếng trong nghệ thuật thẩm trà…
“Trước kỷ thứ bảy, Trung Hoa/ Trà – phương bắc biết thông qua láng giềng/ Phương nam cung tiến thường niên/ Man di, Mông, Địch kể bên cũng là/ Sử ghi Việt Cổ xưa xa/ Cống nạp cây quý: quế, trà, trầm hương.”
Chén trà dẫn người đọc đến minh chủ Đại Việt Trần Nhân Tông: “Hồn trà mách bảo: dụng nhu địch cường” và “Hồn trà xoay chuyển phù vân cõi này”. Siêu nhất là trà với Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Nhấp – sơ tính thử, giật mình/ Một ngàn năm rõ khuôn hình càn khôn”. Nguyễn Du thì chỉ có thể với “Chén thân phận ngấm nỗi đời huyễn hư”.
Tư tưởng và cấu tứ luận đề của trường ca “Lục bát trà” được thấy rõ qua bài điểm sách của nhà thơ Vương Huy: “Về tinh thần, cái xuyên suốt chi phối toàn bộ tác phẩm là cách thưởng ngoạn Trà. (…) logic xương sống của thi phẩm là một chữ Trà, một chuyện về Trà (….) tác giả bung phá ra mọi góc độ theo đà thuận tay, thuận trí, thuận tình với đầy đủ cả nội hàm, ngoại diên của triết học. Đó là cái ý chí và trường lực sáng tạo thi triết kinh người của thi sĩ Phạm Văn Sau. Đọc “Lục bát Trà” chỉ thấy Việt. Việt trong từng câu chữ ý lời. Việt trong cách suy ngẫm. Việt trong thể tính thơ. Việt trong cái lần hồi sử tịch địa quán. Việt trong hồn và xác. Việt nguyên căn. Việt tính. Cái truân chuyên của Trà cũng là cái truân chuyên của Việt.”
Tất cả gói ghém trong tấm áo chữ nghĩa Việt: thơ lục bát. Đừng quên, tác giả Phạm Văn Sau còn là dân đất Thần Kinh – nơi có trà đạo Huế trở thành tập tục Việt kể từ triều nhà Nguyễn.

Câu thơ về trà thích nhất của người viết
Với quan niệm thơ hay ở chỗ tạo ám ảnh. Ngày xuân bên “chén trà hàn ôn”, muốn cởi lòng cùng bạn bốn phương điều này: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương” là câu thơ chúng tôi thích nhất, về trà. Người thơ phải đeo tới 3 tiêu chí “tài cao”, “phận thấp”, “chí khí uất” mới sinh sản ra tuyệt bút đến thế!
Nó ám ảnh kể từ lần đọc đầu tiên đến giờ còn ám ảnh. Nó ám ảnh mỗi khi cầm mãi chén trà nóng bỏng đến lúc nguội tanh mà lòng vẫn bất an, hạnh phúc đâu chẳng thấy, thiền hành sao không nổi. Nó ám ảnh mỗi dịp đọc lại thơ Phùng Cung, đọc về Phùng Cung, về các thi phận tương tự. Nói gọn, nó ám ảnh và ám ảnh và ám ảnh.
Ai đã mê thơ của tác giả “Con ngựa già của Chúa Trịnh” thì thấy sự cởi lòng từ chúng tôi không mới mẻ. Thì vẫn. Chỉ là đấm vào cánh cửa đã mở: đã có tới hàng trăm lời khen tụng, cả tá bài, đoạn bình ba dòng thơ trên. Thì vẫn. Ngắn, nhưng đó là nguyên một bài thơ. Cả thảy 14 chữ tính cả tên bài. Mà tên bài cũng ngắn như không còn gì ngắn hơn, lại bao la cũng tới hết chỗ bao la: “Trà”. Thế mới xứng tên bài thơ danh giá. Thế rồi cũng có tác giả bài báo nọ là bạn thân con trai nhà thơ đoan quyết tên bài thơ là “Không đổi giọng Tân Cương” cơ! Nghe rất “hoàn cảnh”! Lại còn một dị bản nữa về câu chót: “Chẳng đổi giọng Tân Cương”. Của đáng tội, từ điển dạy: “chẳng” biểu thị ý phủ định như từ “không”, nhưng với ý quả quyết hơn. Đúng với khí thơ toàn bài, với khí phách tác giả toàn cuộc đời. Song về âm điệu, bản sau nghe yếu hơn về khí thơ, nhẹ hơn về chất thơ. Phải không ạ?
Tân Cương! Các bạn hệ a-còng ưa chu du thiên hạ hơn là thăm thú giang san cẩm tú Tổ quốc hoặc mấy anh chị Tây ba lô mới học tiếng ta nhiều khi cứ tưởng ấy là một khu tự trị của nước Trung Hoa. Không, Tân Cương trong thơ họ Phùng đích thị khu vực Tân Cương thuộc tỉnh Thái Nguyên – được xem như thủ phủ trà Việt Nam (dù chỉ là tỉnh thành có diện tích trồng chè lớn thứ nhì đất nước, soán ngôi đầu là tỉnh Lâm Đồng với 25.000 ha.) Còn nữa, vẫn với khảo cứu của PGS Đỗ Ngọc Quỹ, “cây chè Thái Nguyên, theo sách cổ có nguồn gốc từ Phú Thọ. Công đầu thuộc về ông Đội Năm coi sóc vùng Tân Cương đã mang giống chè này về trồng, không ngờ với đặc điểm thổ nhưỡng tuyệt vời, chè trồng ở Thái Nguyên trở thành đệ nhất danh trà.” Bậc tiền bối nhiều công lao ấy, tên thật là Võ Văn Thiệt, đã di thực cây chè trong các năm đầu thập niên 1920. Và ở thập niên vừa qua, trà Tân Cương 90 năm tuổi đã trở thành thương hiệu trà toàn cầu với Festival Trà Thái Nguyên lần thứ 3 vào năm 2015. Ở nơi suối vàng Phùng thi nhân cũng cả cười khi dự phóng trước mấy thập niên về một “giọng-Tân-Cương” giữa văn đàn nước nhà.

Thu chén trà nồng
Trà nồng cũng đến hồi thu chén. “Nhất phiến tài tình” Nguyễn Tuân chẳng đã từng có lời tại tuyệt bút nêu trên đó sao, “trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và một tị triết lý và tâm lý.”
Trà ngấm vào thơ, thơ đượm trong trà… Mời cạn chén!.

Vancouver – giáp xuân Mậu Tuất 2018

Đỗ Quyên

Kỳ 1