Trà ngấm vào thơ, thơ đượm trong trà

693

Chè ngon, nước chát xin mời
Nước non non nước, nghĩa người chớ quên.
(Ca dao)

Một trà, một rượu, một thơ ca
Người ta đã không nhầm tí tẹo nào khi bảo tại đâu có cái sự nhâm nhi trà (chè) và rượu, ở đó tất kèm theo thơ. Ngược lại, chỗ nào có thơ, hẳn nơi ấy hiện diện chén rượu, tách trà. Mà không phải chỉ ở xứ ta, khắp trên trái đất. Giữa nhiều khuynh hướng thơ xưa nay có một dòng thơ về rượu, có một dòng thơ về trà. Một trà, một rượu, một thơ ca… Và bạn yêu thơ có thể dùng câu trên đối lại câu từng ám ảnh bao trang nam nhi chi chí: Một trà, một rượu, một đàn bà…
Thơ về rượu và rượu với thơ, hẳn có vô số sáng tác, bài sách khảo cứu. Còn thơ về trà và trà với thơ cũng không kém cạnh. Có điều, bổn tính trà khiêm cung lại nghiêng về suy tư trầm mặc, chớ không bốc men lửa say sưa tình như rượu, thành thử ít được nổi.
Chúng tôi xin bình chọn đa phần từ các câu thơ về trà tham dự triển lãm “Trà và Thi ca” tại “Liên hoan Trà Thái Nguyên – Việt Nam năm 2015” (theo vannghethainguyen.vn) cùng một số câu thơ, tài liệu trong các bài của nhiều tác giả khác nhau như Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Đỗ Ngọc Quỹ, Huệ Minh, Thái Bá Tân, Đỗ Tiến Bảng, Vương Huy, Nguyễn Phượng, Huỳnh Chương Hưng…

Câu thơ đứng đầu bảng trà
Nó nằm trong bài cổ tương truyền chữ Hán với 4 câu hiếm ai từng nhấp dù chỉ nửa ngụm trà lại không xổ nho chùm: “Bán dạ tam bôi tửu/ Bình minh sổ trản trà/ Nhất nhật cứ như thử/ Lương y bất đáo gia.” Nguyễn Tuân, bậc văn nhân thượng thặng về ngôn từ Việt và ẩm thực Việt, ở tùy bút “Chén trà trong sương sớm”, từng chuyển nghĩa: “Mai sớm một tuần trà/ Canh khuya dăm chén rượu/ Mỗi ngày mỗi được thế/ Thày thuốc xa nhà ta.”
Một bí quyết sống đời! Khi biết khéo dùng thì trà và rượu hàng ngày sẽ như hai chân giữ vững tâm thế con người ta sinh tồn trên thiên địa đầy bất trắc. A, còn một cái chân nữa trong phiên bản khác dành cho các quý ông: câu thứ ba “Nhất nhật cứ như thử” được thay bằng một trong ba dị bản “Nhất nhật dâm nhất độ”, “Thất nhật dâm nhất độ”, “Bán nguyệt dâm nhất độ”. Bàn sâu nữa e quý bà lừ mắt quý cô chau mày!
Khác với rượu, trà được dùng bất kỳ trong ngày nhưng vào mỗi sáng sớm là tuyệt đỉnh – đó là chân lý giao lưu trà giữa khí của đất trời và thần của con người. Ngày nay y học hiện đại cho thấy trà là chất chống ung thư hiệu quả nhất. Qua thiên truyện, Nguyễn tiên sinh đã minh họa rất điệu nghệ chân lý này khi gắn với thi ca: “Sớm nay, cụ Ấm cũng ngâm thơ. (…) Mỗi buổi sớm ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu tiên của trời đất. Âu cũng là một quan niệm về vệ sinh của thời cũ. Và người xưa uống trà là để giữ mình cho lành mạnh.”
Có điều nơi trang viết súc tích mà dường như chưa bản văn tiếng Việt nào hay hơn khi bàn về dùng trà trong buổi sớm, Nguyễn thiếu “đất” để nhắc tới câu thơ đầu tiên của nguyên văn chữ Hán. Cái câu từng tạo thắc mắc từ biết bao nội tướng của các tửu đồ: Sao khi không đang đêm được chồm dậy nốc tới ba chén rượu lận? Các cư dân mạng giải mã câu thơ cổ như này… Đông y vốn theo thuyết cân bằng Âm dương của kinh Dịch. Buổi tối là âm là tĩnh, con người lý tưởng nên ngủ sớm từ 8 giờ tối đến 12 giờ khuya. Ở thời khắc 1 giờ sáng hôm sau thiên hạ bắt đầu chuyển qua dương, qua trạng thái động thì ta nên thức dậy mà uống rượu. Uống lúc đó dạ dày sẽ vận hành nhẹ nhàng, thận lợi vô cùng. Còn sao phải đúng “tam bôi”? Thế mới hiệu quả, ít quá thuốc không thông, nhiều quá gan chuốc hại. Chú ý quan trọng: Cái đồ uống để người xưa “bán dạ tam bôi tửu” chính là ba chung rượu thuốc ngâm thảo dược, chứ đâu phải cuốc lủi ba xị đế, quyết không thể Brandy hay Vodka! Đừng nhầm?!
Như thế, các cụ dưỡng sinh bằng cách chỉ ngủ thật sự từ khoảng 8 giờ tối đến tầm 1 giờ sáng. Các giờ khắc sau chỉ là… ngủ chơi; mơ màng vớ vẩn. Thêm một điều “nhạy cảm”: các cụ ông thường thức dậy lúc 1 giờ sáng để đi tiểu tiện và tránh mộng tinh. Tự thưởng ba chén rượu bổ bên đôi trang sách thánh hiền trong dương khí đất trời lan tỏa, há chẳng là đấng quân tử sao? Thôi, cho qua cái vụ rượu luôn rắc rối tơ. Hứa, trở xuống chỉ tuyền chuyện trà và nếu có bị dính tí rượu vào cũng sẽ thanh tao.
Nối tiếp “Bình minh sổ trản trà”, không biết đã có bao nhiêu vần thơ tương tự lưu danh rồi?
“Uống trà trong nắng sớm/ Vườn tâm đầy hương hoa” của Viên Ngộ, thiền sư sáng lập chùa Lan Nhã từ đầu thế kỷ 19 nổi danh với nhiều giai thoại đem mạng sống của mình hành đạo. Hai chữ “vườn tâm” gói cả người, trà và thiên nhiên lại. Học giả có tiếng trong nhiều thập niên qua, nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo, văn-thi sĩ, dịch giả uy tín Tuệ Sỹ đã có những câu tưởng như ai cũng viết được: “Sương mai lịm khói trà/ Gió lạnh vuốt tờ hoa/ Nhè nhẹ tay nâng bút/ Nghe lòng rộn âm ba.”
Các nhà thơ đương đại khác, mỗi người một cách. Với Tràm Cà Mau là niềm luyến ái khi hạnh phúc nam nữ thăng hoa và hân khoái vào giờ chào ngày mới: “Cùng em nâng chén trà hương/ Khi ngày mới chớm khói sương mịt mờ/ Trăm năm thu ngắn một giờ/ An vui hạnh phúc bên bờ thần tiên.” Còn Trần Ngọc Tuấn phải đối diện trước bàn trà ban mai sau một đêm vượt thắng chính mình: “Qua đêm phiền não tan rồi/ Ấm ly trà sớm ta ngồi với ta/ Hiên ngoài vài giọt sương sa/ Tan trên chồi biếc chan hòa nắng mai.” Vâng, ở giao thời ngày đêm trà đã bảo hành cho một tương lai đẹp sau cái quá khứ tồi.

Trà, người bạn đường thường nhật
Không chỉ với sáng, có thể uống trà trưa, chiều, tối, đêm tại bất cứ cơ hội nào trong ngày, trong tháng của một người, một nhóm người thân sơ bất kể. Ở xứ Nam ta thói quen uống trà cũng như hàng ngày ăn cơm.
Nguyễn Du hãn hữu “dùng trà” trong kiệt tác Truyện Kiều thì phải? (Quý bạn nào rành hãy cho biết?) Chúng tôi sẽ lần tìm sau, còn đây câu thơ xao xuyến về nghệ thuật và bản lề về nội dung mà ai cũng nhớ: “Khi hương sớm khi trà trưa/ Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn.” Gặp Thúc Sinh là đỉnh cao tình cảm dẫn tới vực sâu đầy đọa của Thúy Kiều, đại thi hào đã dành hết lời cạn ý cho trường đoạn này với nhiều câu đóng đinh bảng vàng các câu thơ hay Việt Nam, trong đó hai câu tiếp ngay sau câu “trà trưa” là: “Miệt mài trong cuộc truy hoan/ Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.”
“Thư nhàn xin lửa pha trà mới/ Vui thú bên thông ngắm chiều qua”: mới đọc qua khó đoán đến từ Cao Bá Quát. Vị thánh của ngôi đền thi ca dân tộc hẳn đã dùng trà sớm, trà trưa mà vẫn chưa “phê”. Phải thêm vài chiêu trà chiều, thậm chí lân sang trà tối, trà đêm mới “qua” hết một khoảnh “thư nhàn” trong suốt cuộc đời oan nghiệt và lẫm liệt của mình.
“Trà tối” của Pentti Saarikoski là đoản thi lời chữ tựa lông hồng trong ý tứ ngàn cân. Trà ở thơ thời nay chỉ cớ. Vu vơ và vẫn vô vi. Cơm tối xong xuôi, “nhấp chén trà tối” là chuyện nhỏ của triệu triệu người trên khắp hành tinh, nhất là ở xứ lạnh sương mù như Anh quốc, Bắc Âu. Nhưng ở nhà thơ Phần Lan này, đó là chuyện lớn: uống trà là uống… “đầu Xtalin”! Chắc chắn bài này dự phần vào việc thơ Saarikoski được đánh giá là “rất đặc biệt, thường được so sánh với thơ cổ Hy Lạp vì chúng ngắn, với các khúc bi thương, những bài trào phúng và những đoạn, mẩu rời rạc (…), được coi là mẫu mực của thơ ca Phần Lan thập kỷ 1960.” (Theo thivien.net). Chúng tôi bảo đảm với quý bạn rằng trong mười ngón tay của mình đang gõ máy đây đã phục sẵn một bài bình hào hứng về thi phẩm xuất sắc “Trà tối”. Tác giả kết hợp điệu nghệ hai thủ pháp quen thuộc dễ làm nên một bài thơ thế sự đã súc tích lại còn choáng váng: điểm rơi (tên bài; cuối bài) và từ khóa (“Trà”; “Xtalin”).
Mời đọc toàn bộ bài thơ, qua bản dịch trôi như lụa bén tựa dao của nhị vị Bùi Việt Hoa và Ngô Thế Oanh, từng xuất hiện lần đầu trong tạp chí Văn học Nước ngoài (Hội Nhà văn Việt Nam) ra năm 1997 số Chuyên đề Văn học Phần Lan:
“Tôi nhấp chén trà tối/ đọc sách/ ngồi trên bến cảng/ những người khác đang làm gì trong nhà họ/ tôi phỏng đoán/ soi đèn pin xuống dưới cầu tàu/ nơi những con tôm và cá vược đang bơi/ tôi/ nhìn lên trời/ mùa thu đang ở gần anh/ tôi vào trong nhà/ tôi lên cầu thang/ trí sáng suốt như trước giờ tận số/ trên chiếc giường trẻ con là tấm chăn màu đỏ/ bé con đặt tay sau gáy nằm dễ thương sao/ tôi ra sân/ rồi lại quay vào/ đêm đã xuống/ tôi lặng ngồi nhìn ngắm/ qua đầu Xtalin.”
Sợ mất ngủ, ngại trà đêm. Phải thôi, trừ sự bất khả kháng. Như giãi bày tâm sự lớn cho suôn sẻ, cảm thông. Hoặc xử lý việc éo le bất ngờ, như ở bài “Hàn dạ” của thi sĩ Đỗ Lỗi đời Tống: “Hàn dạ khách lai trà đương tửu/ Trực lô thang phí hỏa sơ hồng/ Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt/ Tài hữu mai hoa tiện bất đồng.” (Đêm lạnh khách qua trà thay rượu/ Lửa vừa mới bén nước đang sôi/ Ánh trăng trước cửa càng đơn lẻ/ Hay muốn thay hoa chuốc ngậm ngùi.”) Giống cô em hiền thục, những khi cần trà có thể giúp đỡ rượu – ông anh nóng tính và sôi nổi.

Từ trà đến thiền
Lẽ tự nhiên các thiền sư làm nhiều thơ về trà. Trà và thiền là một, như lời cổ nhân “Trà vị thiền vị thị nhất vị”. Cùng xuất phát từ Trung Quốc, trà có trước từ rất lâu, khoảng triều nhà Thương (1600 TCN – 1046 TCN), nhưng người cổ xưa chưa biết khai thác ngay tính thiền trong thứ nước uống thần diệu đó. Thiền bắt nguồn từ đạo Phật ở Ấn Độ mà chỉ khi được lan truyền và phát triển ở Trung Quốc vào tầm thế kỷ thứ 6 – thứ 7 mới trở thành một tông phái tác động lên xã hội. Cũng từ thời đó, uống trà đã thành nghi thức hàng ngày trong các tu viện phật giáo Trung Hoa.
Tập thiền và thưởng trà cùng một kết quả: tâm thăng hoa, hồn thuần khiết. Và một trong các phương pháp thiền tông là uống trà, được gọi là trà thiền. Chẳng thế, chuyên gia hàng đầu và cũng là một nhà quản lý về công nghệ trà Việt Nam PGS Đỗ Ngọc Quỹ cho rằng “trong cuộc sống, để được thanh nhàn trước thế sự trần tục mênh mông bể khổ, uống trà còn biểu hiện một sự ẩn mình trong đáy lòng để nhìn lại sự đời đầy trắc ẩn khôn lường.”
Trong 10 bài hát thực tập chánh niệm có thi kệ bất hủ là “Thiền trà”; tin là bạn đọc dẫu không nghiện trà cũng chẳng ham thiền vẫn từng biết vài câu ý trong bài: “Chén trà trong hai tay/ Chánh niệm dâng tròn đầy/ Thân và tâm an trú/ Bây giờ và ở đây/ Khi uống chén trà trong/ ta nhớ cội nhớ nguồn/ Khi nhấm chén trà thơm/ hỏi nước đến từ đâu/ Nước từ nguồn suối cao/ nước từ lòng đất sâu/ Nước mầu nhiệm tuôn chảy/ Ơn nước luôn tràn đầy.” (Theo langmai.org) Bây giờ và ở đây – đó là điều hệ trọng nhất của thiền tông. Hiện tại (thiền, chánh niệm) là đến từ quá khứ (trà, nước). Biện chứng quá rồi còn gì!
Thiền sư, nhà thơ hiện đại Phạm Thiên Thư, người từng dịch kinh Phật ra thơ Việt cũng góp lời về trà: “Đốt trầm hương lên/ Ngâm bài cổ thi/ Khoác áo dài nâu/ Thưởng trà đạo vị.” Vẫn như thế với: “Nhặt chút hương tĩnh lặng/ Hãm chung trà vô vi/ Cùng cảo thơm thi bút/ Mời bằng hữu cố tri.” (Mai Quang). Hay: “Nhẹ nâng một chén trà thiền/ Bình tâm nhìn khói ưu phiền thoảng bay/ Cuộc đời một giấc mộng say/ Trăm năm nhìn lại, mới hay, vô thường.” (Thiện Hùng).

Đỗ Quyên

Kỳ 2