Một số tác phẩm của tác giả Phạm Đức Hùng

729

 

 

NGƯỜI CHẾT

GUY DE MAUPASSANT

Guy De Maupassant là một nhà văn hiện thực nổi tiếng của Pháp (1850 – 1893), ông mở đầu sự nghiệp sáng tác của mình với truyện ngắn “Viên mỡ bò” (1880). Trong khoảng mười năm cầm bút, ông đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ: trên 300 truyện ngắn, 6 tiểu thuyết và một số tác phẩm thuộc các thể loại khác.

Tôi đã yêu nàng đến điên cuồng. Tại sao người ta lại yêu điên cuồng? Không điên cuồng sao, khi mà ta chỉ nhìn thấy một người giữa muôn vàn người, trong đầu chỉ còn một ý nghĩ, trong lòng chỉ còn một ao ước và trong mồm chỉ có một cái tên? Cái tên cứ dâng lên không ngừng, dâng lên như nước nguồn, từ đáy sâu thẳm tâm hồn, dâng lên mãi, và ta gọi, ta thì thầm không dứt, ở mọi nơi, như một lời cầu nguyện.

Tôi không có ý định kể câu chuyện của chúng tôi; trong tình yêu chỉ có một câu chuyện, và nó luôn giống nhau. Tôi đã gặp nàng và yêu nàng, tất cả chỉ có vậy. Suốt một năm trời tôi sống trong tình yêu của nàng, tôi được nàng ôm ấp, vuốt ve, chăm sóc. Tôi thích nghe nàng nói, thích ngắm những cái váy nàng mặc. Tôi bị gắn bó, bị ràng buộc, bị say mê bởi tất cả những gì nàng có, luôn đắm chìm trong men say tình ái, nên tôi không biết ngày hay đêm, không biết mình chết hay sống, không biết mình còn ở trên trái đất cũ kĩ này hay đã ở một nơi nào khác. Và đúng vào lúc đó thì nàng chết. Nàng chết như thế nào? Tôi không còn nhớ nữa.

Vào một buổi tối trời mưa nàng trở về nhà người ướt như chuột lột. Những ngày sau đó nàng ho, nằm liệt giường.

Sau đó xảy ra những gì thì tôi không còn nhớ nữa.

Các bác sĩ đến, kê đơn thuốc và ra về. Người ta mang đến thứ gì đó từ hiệu thuốc, một người phụ nữ cho nàng uống. Hai tay nàng nóng ran, trán nàng nóng như lửa đốt, vã mồ hôi. Đôi mắt nàng long lanh, buồn rầu. Tôi nói với nàng, và nàng đáp lại. Chúng tôi đã nói với nhau những gì? Tôi không còn nhớ nữa. Tôi đã quên tất cả. Nàng chết. Nhưng tôi vẫn còn nhớ như in tiếng thở dài khe khẽ, yếu ớt cuối cùng của nàng.

Người hộ lí thốt lên: “Ôi!” Và khi đó tôi hiểu điều gì đã xảy ra.

Tôi không còn biết gì nữa. Tôi nhận thấy vị linh mục đã dùng đến cụm từ “người tình của ông” khi nói với tôi về nàng. Tôi có cảm giác ông ta đã  xúc phạm đến nàng, vì bây giờ nàng đã chết và không ai có quyền nói như vậy nữa. Tôi đuổi ông ta đi. Một linh mục khác rất hiền lành, rất mềm mỏng đến thay. Tôi đã khóc khi ông nói về nàng.

Người ta hỏi tôi đủ thứ về tang lễ của nàng. Tôi không còn nhớ nó diễn ra thế nào nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn còn nhớ rất rõ cái quan tài, nhớ những nhát búa lúc người ta đóng chặt nắp quan tài khi nàng đã nằm ở trong đó. Ôi, Chúa ơi!

Nàng đã được an táng, được chôn cất ở dưới huyệt! Một vài người bạn đã đến tiễn đưa nàng về nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi lủi đi, chạy trốn, lang thang qua các con phố một lúc lâu, sau đó tôi về nhà. Ngày hôm sau tôi ra đi.

Hôm qua tôi đã trở lại Paris. Khi tôi nhìn lại căn phòng của chúng tôi, chiếc giường của chúng tôi, đồ đạc của chúng tôi, nhìn lại toàn bộ ngôi nhà đang lưu giữ tất cả những gì còn lại của một người sau khi chết thì nỗi thất vọng lại xâm chiếm mãnh liệt khiến tôi muốn mở cửa sổ và lao xuống đường. Tôi không thể chịu được nữa khi nhìn thấy tất cả những đồ vật này, nhìn thấy những bức tường ngày trước đã ôm ấp, che chở nàng; trong tất cả các khe nứt li ti khó nhận thấy nhất định còn giữ lại hàng ngàn phân tử từ cơ thể, từ hơi thở của nàng, và tôi cầm mũ lên để chạy trốn. Tình cờ, khi tôi đi ra cửa tôi cần phải đi ngang qua chiếc gương to mà nàng đã cho đặt ở đó để hàng ngày quan sát, ngắm nghía từ chân đến đầu mình, xem trang phục đã chỉn chu chưa, trông đã xinh đẹp chưa mỗi khi nàng đi ra phố.

Tôi đứng lại, ngây người trước chiếc gương đã thường xuyên phản chiếu hình bóng nàng, chắc hẳn nó vẫn còn giữ lại hình ảnh nàng.

Tôi đứng ở đó run rẩy, mắt nhìn vào mặt gương phẳng, sâu, trống rỗng, nhưng đã chứa đựng nàng toàn vẹn, đã chiếm hữu nàng, y như như tôi, y như cái nhìn say đắm của tôi. Tôi thấy dường như tôi yêu tấm gương đó. Tôi sờ vào nó, nó lạnh lẽo. Ôi, hồi ức! Ôi, tấm gương đau xót, tấm gương thèm khát, tấm gương sống động, khủng khiếp, ngươi đang gợi lại tất cả mọi nỗi khổ đau! May mắn thay những người có tấm lòng giống một tấm gương, trong đó các hình ảnh xuất hiện rồi phai mờ, họ quên đi tất cả những gì mà tấm gương phản ánh, tất cả những gì đã xảy ra, tất cả những gì mà nó đã ngắm nghĩa, đã tận hưởng, đã phản chiếu. Ôi, đau đớn lắm thay!

Tôi đi ra ngoài. Không chủ định và bản thân tôi gần như không ý thức được việc mình đi ra nghĩa địa. Tôi tìm thấy ngôi mộ đơn độc của nàng, trên đó có một cây thánh giá bằng đá cẩm thạch với dòng chữ: “Nàng đã yêu, đã được yêu và qua đời.” Giờ đây nàng nằm ở dưới đất và đang tàn rữa! Thật khủng khiếp! Tôi nức nở, gục đầu xuống đất.

Tôi nằm gục ở đó rất lâu. Sau đó tôi nhận thấy trời bắt đầu tối. Khi ấy một ý nghĩ điên rồ xâm chiếm tôi, đó hẳn là nguyện vọng của một người đang yêu sắp bị phát điên. Tôi muốn ở lại suốt đêm bên nàng, muốn khóc trên mộ nàng đêm cuối cùng. Nhưng người ta sẽ nhìn thấy tôi và sẽ đuổi tôi đi. Làm thế nào bây giờ? Tôi đã có cách. Tôi đứng dậy và bắt đầu đi lang thang trong thành phố của người chết. Tôi cứ đi, đi mãi. Thành phố này thật nhỏ bên cạnh thành phố nơi con người đang sống. Tuy nhiên, số người chết lại nhiều hơn số người đang sống! Chúng ta cần những ngôi nhà to, cần phố xá, cần quá nhiều đất để sản xuất đủ lương thực, thực phẩm cho biết bao thế hệ đang cùng chung sống. Còn đối với tất cả những người đã chết thì họ hầu như không cần gì ngoài một cánh đồng. Đất tiếp nhận họ, sự lãng quên xóa nhòa họ. Chỉ thế thôi!

Ở cuối nghĩa trang, nơi vẫn có mộ, bất ngờ tôi phát hiện ra một phần nghĩa trang bị lãng quên, nơi từ lâu những người chết đã hòa mình vào đất mẹ, nơi ngay cả những cây thánh giá cũng mục nát, và nơi có thể ngay ngày mai người ta sẽ lại chôn cất những người mới chết. Phần nghĩa trang này có hoa hồng dại mọc um tùm cùng với những cây trắc bá to, tối sẫm, trông giống như một khu vườn u trầm, huyền bí được nuôi dưỡng bằng thân xác con người.

Tôi chỉ có một mình. Tôi nấp ở bên dưới một cái cây um tùm, hoàn toàn giấu mình ở giữa những cành lá rậm rạp, và bám vào gốc cây, chờ đợi như một người bị đắm thuyền đang bám chặt vào mảnh vỡ của con thuyền.

Đến đêm, tôi rời khỏi nơi ẩn nấp và đi nhẹ nhàng, bằng những bước chân chậm chạp, rón rén ở trên mảnh đất mà dưới đó có đầy người chết.

Tôi lang thang một lúc lâu. Tôi không tìm lại được mộ nàng nữa. Hai tay giơ ra, căng mắt nhìn, tôi sờ soạng vào những nấm mồ, va chân, đầu gối, ngực, thậm chí cả đầu vào chúng, tôi mò mẫm tìm đi tìm lại nhưng không tìm thấy mộ nàng. Tôi sờ soạng, rờ rẫm như một người mù tìm đường. Tôi sờ những viên đá lát mộ, những cây thánh giá, những chấn song sắt, những vòng tròn bằng ngọc trai thủy tinh, những vòng hoa tàn héo. Tôi dùng ngón tay sờ trên chữ để đọc tên người. Đêm tối đen như mực, còn tôi thì không tìm thấy mộ nàng.

Trời không có trăng. Đêm tối như bưng. Tôi sợ, một nỗi sợ khủng khiếp khi tôi ở trong những lối đi hẹp, giữa hai dãy mộ. Những nấm mồ có ở khắp mọi nơi! Bên phải, bên trái, đằng trước, xung quanh tôi đều là những nấm mồ! Tôi ngồi lên một ngôi mộ, vì tôi không thể đi được nữa, đầu gối tôi khuỵu xuống. Tôi nghe thấy tim mình đập, và tôi còn nghe thấy những tiếng động khác. Cái gì thế nhỉ? Có một tiếng động mơ hồ, khó tả. Phải chăng nó ở trong đầu óc hoảng loạn của tôi? Trong màn đêm đặc quánh? Hay là nó vang lên từ lòng đất bí hiểm, nơi chứa đầy xương người? Tôi nhìn quanh.

Tôi không biết mình đã ở đó bao lâu. Tôi như bị tê liệt bởi kinh hoàng, bị choáng váng bởi khiếp đảm. Tôi muốn hét toáng lên, tôi chết mất.

Đột nhiên tôi thấy dường như phiến đã cẩm thạch mà tôi ngồi lên chuyển động. Quả thật, nó chuyển động như thể người ta nâng nó lên. Tôi nhảy phắt sang ngôi mộ bên cạnh và nhìn thấy như là phiến đá mà tôi vừa mới ngồi dựng đứng lên và người chết xuất hiện, một bộ xương trần trụi khom lưng nâng phiến đá lên. Tôi nhìn thấy rất rõ, mặc dù đêm tối đen kịt. Và tôi đọc được ở trên cây thánh giá:

“Nơi đây yên nghỉ Jakob Olivant, qua đời ở tuồi năm mươi mốt, là người yêu quý gia đình, hiền lành, tốt bụng, và chết trong sự bằng an của Chúa.”

Lúc này người chết cũng đọc những gì được viết ở trên mộ mình. Đoạn, y nhặt một viên đá nhỏ sắc ở lối đi, tỉ mẩn cạo dòng chữ. Y chậm rãi xóa nó đi, hai hốc mắt trống rỗng vào chỗ những chữ cái vừa mới bị cạo đi. Và y viết bằng đầu nhọn của xương ngón tay trỏ dòng chữ với những chữ cái đỏ rực như người ta viết bằng một que diêm đang cháy lên tường:

“Nơi đây yên nghỉ Jakob Olivant, qua đời ở tuổi năm mươi mốt, người đã nhẫn tâm ép bố chết sớm để thừa kế tài sản, đã hành hạ, dày vò vợ con, lừa dối hàng xóm, hễ có dịp là ăn cắp và chết trong đau khổ.”

Khi đã viết xong người chết im lặng ngắm nhìn tác phẩm của mình. Và khi nhìn quanh tôi nhận thấy, tất cả các ngôi mộ đều mở, tất cả các thây ma đều ra khỏi mộ, tất cả bọn họ đều đã xóa đi những lời dối trá mà người thân của họ đã cho khắc lên những tấm bia mộ, để ghi lên đó sự thật.

Và tôi nhận thấy tất cả bọn họ đều đã là những kẻ hành hạ người thân của mình một cách đầy thù hận, đều là những kẻ giả nhân giả nghĩa, dối trá, lừa lọc, vu khống, ghen tị, ăn cắp, bịp bợm, đã làm mọi điều ô nhục xấu xa. Họ, chính họ là những người cha nhân hậu, những người vợ thủy chung, những cậu con trai có hiếu, những cô gái trẻ trong trắng, những thương gia lương thiện…, tất cả đều tở thành những người hoàn hảo do chính người thân của họ tô vẽ nên.

Tất cả bọn họ cùng viết một lúc lên bia mộ của mình sự thật tàn bạo, khủng khiếp, đáng sợ mà những người đang sống không biết, như thể họ không biết mình đang viết gì về mình.

Tôi nghĩ giờ đây nàng cũng đang viết sự thật lên bia mộ của mình. Và không còn sợ hãi, tôi chạy đi giữa những nấm mộ đã mở, giữa những thây ma, giữa những bộ xương với niềm tin chắc chắn sẽ tìm được nàng.

Tôi nhận ra nàng từ xa, khuôn mặt nàng bị vải liệm trùm kín. Và trên cây thánh giá bằng đá cẩm thạch mà chiều hôm trước tôi còn đọc được dòng chữ: “Nàng đã yêu, đã được yêu và qua đời!” tôi thấy có dòng chữ:

“Một hôm nàng đi ra khỏi nhà, để lừa dối người yêu, bị cảm lạnh do mưa và chết.”

Có lẽ vào sáng sớm người ta đã tìm thấy tôi bất tỉnh nhân sự bên một nấm mồ…

Phạm Đức Hùng dịch từ bản tiếng Đức

Trở về thư viện tác giả