Xuân trên thực đơn – O.Henry (Mỹ)

744

Đó là một ngày tháng Ba. Khi viết một mẩu truyện bạn chớ có mở đầu bằng câu trên. Chẳng có sự mở đầu nào dở hơn mở đầu kiểu này. Thiếu sáng tạo, tẻ nhạt, khô khan và rỗng tuếch. Nhưng trong trường hợp này thì không sao. Đoạn tiếp theo đây đáng lẽ nên được trình bày có lần có lượt thì lại đập vào mắt độc giả một cách quá ngông cuồng, ngớ ngẩn và chẳng được trau chuốt gì cả.

Sarah đang khóc trên tờ thực đơn.
Bạn hãy nghĩ đến một cô gái đang khóc trên tờ thực đơn.
Để giải thích điều này bạn sẽ cho phép mình đoán rằng nhà hàng đã hết nhẵn tôm hùm, hoặc do cô gái đã thề sẽ không đụng vào món kem trong mùa ăn chay, hoặc cô đã trót gọi món ăn có hành, hoặc cô vừa đi xem một vở nhạc kịch của Hackett về. Xin thưa, tất cả những giả thuyết trên đều sai bét, và vì thế, xin bạn vui lòng để câu chuyện này được tiếp tục.
Người nào tuyên bố rằng thế giới này là một con sò và với thanh gươm của mình anh ta có thể tạo ra một cú cạy vỏ ngoạn mục thì người đó thực ra chỉ là một cái thùng rỗng kêu to. Cạy vỏ một con sò bằng một thanh gươm thì có gì là khó. Nhưng bạn đã bao giờ để ý thấy ai cạy vỏ của một con sò bằng một cái máy đánh chữ chưa?
Bằng thứ công cụ bất tiện, Sarah đã cố cạy vỏ để gặm nhấm từng mẩu lạnh lẽo và tủn mủn bên trong vỏ sò. Cô không biết viết tốc kí. Và bởi vì không thể viết tốc kí, cô không thể bước vào giới tinh hoa văn phòng được. Cô là một người đánh máy tự do và cứ việc đi khắp nơi để người ta ban cho mình những việc đánh máy kì cục.

Kì tích của cuộc vật lộn với đời của Sarah chính là công việc mà cô kiếm được với nhà hàng của Schulenberg. Nhà hàng này nằm cạnh tòa nhà có phòng cho cô thuê. Một hôm sau khi kết thúc bữa tối 5 món 40 cent tại nhà hàng này, Sarah mang tờ thực đơn về phòng trọ. Nó được viết nguệch ngoạc chẳng rõ bằng tiếng Anh hay tiếng Đức, và được sắp xếp lộn xộn đến nỗi nếu không cẩn thận bạn có thể bắt đầu bằng món tăm xỉa răng rồi đến món bánh tráng miệng vào một ngày trong tuần.

Ngày hôm sau, Sarah mang tới nhà hàng Schulenberg một tờ thực đơn được đánh máy rõ ràng với các tên món ăn hấp dẫn được sắp xếp theo thứ tự đâu ra đấy, lại còn có thêm dòng ghi chú: “nhà hàng không chịu trách nhiệm về áo khoác và ô của khách hàng”.
Với tờ thực đơn được viết bằng ngôn ngữ chuẩn, Schulenberg lập tức trở thành một công dân thứ thiệt. Trước khi Sarah rời nhà hàng, ông ta háo hức đi đến một thỏa thuận với cô. Cô sẽ cung cấp thực đơn cho hai mươi mốt bàn ăn của nhà hàng-mỗi bữa tối một thực đơn mới, còn thực đơn của bữa sáng và bữa trưa thì thường xuyên thay đổi để phù hợp với sự thay đổi món ăn và để những tờ thực đơn luôn sạch sẽ.

Đổi lại, ba bữa ăn sẽ được mang tới tận phòng của Sarah mỗi ngày bởi một người phục vụ chu đáo của nhà hàng – và mỗi buổi chiều, danh sách các món ăn mà định mệnh dành cho khách hàng của Schulenberg trong ngày hôm sau sẽ được chuyển tới Sarah dưới dạng một bản nháp.
Đúng là một thỏa thuận đôi bên cùng có lợi. Giờ đây các khách hàng của Schulenberg biết món họ dùng được gọi là gì cho dù đôi khi họ chả hiểu thực chất món ăn đó là gì. Còn Sarah thì có được cái ăn trong suốt mùa đông lạnh lẽo, dài lê thê.
Cuốn lịch lừa phỉnh người ta, ghi rằng mùa xuân đã tới. Mùa xuân đến khi nào nó đến. Tuyết tháng giêng vẫn đóng băng rắn như đá trên các ngã tư. Những cây đàn oóc-gan vẫn tấu lên bản “Mùa hè xưa tươi đẹp” với sự sôi nổi và cách biểu đạt của tháng mười hai. Các quí ông bắt đầu ghi ra giấy để nhắc mình trong ba mươi ngày nhớ mua những bộ áo cho lễ Phục sinh. Và khi những điều này còn hiện diện thì có nghĩa là thành phố vẫn còn nằm trong sự vây xiết của mùa đông.

Một buổi chiều Sarah đang run lập cập trong căn phòng tao nhã của cô, căn phòng mà theo như quảng cáo là phòng “có lò sưởi, được lau dọn cực kì sạch sẽ; tiện lợi; nhìn là ưng”. Cô không có việc gì để làm ngoài việc đánh máy thực đơn cho Schulenberg. Sarah ngồi trên chiếc ghế đu cọt kẹt làm bằng thân cây liễu nhìn ra cửa sổ. Tờ lịch trên tường rỉ rả với cô: “xuân đến rồi, xuân đến rồi Sarah, tớ nói cho đằng ấy biết. Nhìn tớ mà xem, các con số của tớ nói lên điều đó. Đằng ấy có dáng người gọn gàng đấy, Sarah, dáng của mùa xuân đấy, sao đằng ấy trông buồn thế?”.
Phòng của Sarah ở mặt sau của tòa nhà. Từ cửa sổ cô có thể nhìn thấy bức tường gạch không có cửa sổ của nhà máy sản xuất bao bì ở đường đối diện. Nhưng trong mắt Sarah bức tường đó trong suốt; Sarah đang nhìn xuống lối đi nhỏ in bóng những cây anh đào, những cây du và được viền quanh bởi những bụi cây mâm xôi và những khóm hồng cheroke.

Những sứ giả của mùa xuân quá tinh vi nên mắt và tai của chúng ta không dễ gì phát hiện ra. Đó chắc hẳn phải là những cây nghệ tây, cây thù du, thậm chí tất cả những thứ đó gộp lại thành một điều nhắc nhở tựa như cái bắt tay giã từ của lúa mì nhút nhát và sò biển trước khi chúng có thể đón chào Quý Bà Màu Xanh xuất hiện trên vẻ mặt ảm đạm của chúng. Tuy nhiên cô dâu mới nhất của ông già trái đất gửi đến những người thân thích của ông những thông điệp thẳng thắn và ngọt ngào với đại ý rằng họ không nên là những đứa con sinh ra từ cuộc hôn nhân trước trừ khi họ lựa chọn điều đó.
Mùa hè trước Sarah đã về nông thôn và đem lòng yêu một anh chàng nông dân.
(Trong khi viết bạn chớ nên để câu chuyện của mình quay ngược trở lại như thế này. Đó là một thủ pháp dở ẹt, nó làm tiêu hao sự hấp dẫn; hãy cứ để câu chuyện tiến lên, tiến lên.)

Sarah đã lưu lại trang trại Sunnybrook hai tuần. Ở đó, cô đã yêu anh con trai Walter của ông nông dân Franklin. Những người nông dân đã yêu, đã cưới nhau, và đã hóa thành cỏ xanh. Còn chàng trai trẻ Walter Franklin là một anh nông dân hiện đại. Trong khu nuôi bò của anh có điện thoại hẳn hoi, và anh có thể tính toán chính xác tác động của vụ lúa mì năm tới ở Canada có ảnh hưởng thế nào đến những cây khoai tây được trồng vào thời kì trăng non.
Chính trên lối đi có những cây anh đào đổ bóng và những cây mâm xôi viền quanh này, anh nông dân Walter đã tán tỉnh và chiếm được trái tim cô. Và họ đã ngồi tết một vương miện bằng những bông bồ công anh cho mái tóc của cô. Và anh đã không tiếc lời ngợi khen sự kết hợp của những bông hoa vàng tưng bừng tươi với những bím tóc màu nâu của cô; và cô đã để vòng hoa ở đó, đi về nhà với chiếc mũ rơm nhún nhẩy trên tay.

Mùa xuân này họ sẽ cưới nhau, cưới nhau ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân, Walter đã nói như vậy. Và Sarah trở về thành phố tiếp tục gõ máy chữ.
Một tiếng gõ cửa làm tan biến những hồi tưởng về cái ngày hạnh phúc đó của Sarah. Một người phục vụ mang bản nháp thực đơn mới của nhà hàng Schulenberg tới.
Sarah ngồi xuống trước chiếc máy chữ. Cô là một tay thợ nhanh nhẹn. Thường thì chỉ trong một tiếng rưỡi cô đã đánh máy xong hai mươi mốt tờ thực đơn.
Thực đơn hôm nay có nhiều thay đổi hơn mọi ngày. Những món canh đơn sơ hơn; thịt lợn bị loại ra khỏi món ăn đầu tiên, chỉ có củ cải Nga điểm giữa các lát thịt nướng. Tinh thần khoáng đạt của mùa xuân lan tràn khắp thực đơn. Cừu non, mới đây còn nhảy cỡn trên sườn đồi xanh, đã được kết hợp cùng với nước sốt, thứ có mặt để tưởng nhớ sự nô đùa vô tư. Khúc hát của những con sò, dù không bị buộc phải câm bặt, cũng chỉ còn ngân khe khẽ. Chảo rán được dịp nhàn rỗi sau những thanh vỉ của lò nướng. Danh sách bánh dài ra; bánh pudding béo ngậy biến mất; xúc xích với lớp áo bọc ngoài nán lại để suy ngẫm về cái chết với bột mì và lớp đường ép từ cây gỗ thích xấu số.

Những ngón tay của Sarah múa trên bàn phím như những sinh vật nhỏ bay lượn trên dòng suối mùa hè. Cô đánh máy tờ thực đơn từ trên xuống dưới, xếp từng món ăn vào vị trí của nó theo chiều dọc với con mắt căn chỉnh thật chuẩn. Liền trước các món tráng miệng là các món rau. Cà rốt, đậu Hà Lan, măng tây phủ trên bánh mì nướng, món khoai tây thường thấy trong các thực đơn, ngô, đậu lima, bắp cải, và sau đó…
Sarah đang khóc trên tờ thực đơn. Những giọt lệ từ nơi sâu thẳm trong trái tim tuyệt vọng của cô trào ra khóe mắt cô. Cô gục đầu xuống giá kê máy chữ và tiếng lách cách khô khốc bật lên phụ họa cho tiếng nức nở của cô.
Sự thể là đã hai tuần rồi cô chưa nhận được thư của Walter, và món tiếp theo cô phải đánh máy vào thực đơn lại là món rau bồ công anh – rau bồ công anh được ăn kèm với món trứng – những quả trứng chết tiệt! – những cây bồ công anh với những bông hoa vàng tươi mà có lần Walter đã tết thành vương miện cho nữ hoàng tình yêu, cô dâu tương lai của anh – những cây bồ công anh, sứ giả của mùa xuân, vương miện buồn của cô – nhắc cô nhớ tới những ngày hạnh phúc nhất.

Thưa quý bà, tôi đố quý bà mỉm cười được khi gặp phải trải nghiệm này; để những bông hồng mà người tình của bà đã tặng cho bà vào cái đêm bà trao trái tim mình cho ông ấy trở thành món salad được trộn  gia vị kiểu Pháp ngay trước mặt bà tại bàn ăn của nhà hàng của Schulenberg. Nếu Juliet mà nhìn thấy tín vật tình yêu của nàng bị sỉ nhục như thế thì nàng sẽ đi tìm độc dược mà uống cho sớm rồi.
Nhưng mùa xuân đúng là một phù thủy! Một thông điệp đã được gửi vào cái thành phố lạnh lẽo của sắt và thép. Chẳng có ai chuyển nó đi ngoài người đưa tin can đảm của những cánh đồng với chiếc áo khoác màu xanh và dáng vẻ giản dị. Đó thực sự là một người lính của vận may, chiếc răng hổ như những đầu bếp người Pháp thường gọi. Khi tưng bừng nở hoa, người lính này trợ giúp cho lời tỏ tình, tô điểm cho mái tóc nâu của người yêu bạn, còn khi non tơ và chúm chím nụ người lính này vào nồi nấu truyền đi lời của cô chủ tối thượng.

Sarah cố kìm nén những giọt lệ. Cô cần phải đánh máy những trang thực đơn. Miên man trong giấc mơ về những bông hoa bồ công anh, cô đã để cho tâm trí và trái tim mình lãng du trên cái lối đi thơ mộng với anh chàng nông dân cô yêu nên những ngón tay trên phím máy chữ của cô trở nên bất động một lát. Nhưng rồi cô sớm lấy lại sự tỉnh táo để trở về với những lối đi trải đá ở Manhattan, và thế là chiếc máy chữ lại bắt đầu kêu lách cách và nảy lên như chiếc xe mô tô của người có nhiệm vụ giải tán đình công.
Đúng 6 giờ, người phục vụ của Schulenberg mang tới cho cô bữa tối và lấy những tờ thực đơn mới đi. Sarah thở dài nhấc đĩa rau bồ công anh gợi nhớ về vòng hoa đội đầu hôm nào của cô sang một bên. Những bông hoa chứng thực tình yêu đã bị biến thành một thứ rau đáng tởm nên mọi hi vọng của cô kể như đã tàn lụi rồi. Tình yêu, như Shakespeare đã nói, tự nuôi nó; nhưng Sarah không tài nào có thể nhắm mắt mà nuốt những bông bồ công anh duyên dáng đã từng là đồ trang trí cho bữa tiệc tinh thần của tình yêu chân thành từ trái tim cô.
7 giờ 30, cặp vợ chồng ở phòng bên bắt đầu cãi nhau; người đàn ông ở tầng trên bắt đầu thổi sáo; nguồn cấp ga yếu đi một chút; ba chiếc xe chở than bắt đầu dỡ hàng tạo ra những âm thanh khiến chiếc máy hát ghen ghét; lũ mèo ở hàng rào sau nhà lặng lẽ rút về phía Mukden. Những dấu hiệu này báo cho Sarah biết đã đến giờ cô đọc sách. Cô lấy ra cuốn “Tu viện và tổ ấm”- cuốn sách bán ế nhất của tháng, gác chân lên chiếc hòm của mình và bắt đầu lang thang cùng nhân vật Gerard.

Chuông cửa reo. Bà chủ nhà ra mở cửa. Sarah tạm quên hai nhân vật Gerard và Denys trốn một con gấu để lắng nghe. Ồ, đúng, bạn cũng sẽ như vậy, sẽ dừng đọc để lắng nghe.
Và một giọng nói khỏe khoắn vang lên từ hành lang dưới nhà, Sarah bổ nhào ra cửa, bỏ mặc cuốn sách và những nhân vật của cô cùng với con gấu. Bạn đã đoán ra rồi đấy. Cô lao ra đầu cầu thang đúng lúc anh chàng nông dân của cô vừa bước lên cầu thang. Anh chàng nhảy ba bậc một lúc ôm choàng lấy cô như gặt một khoảnh ruộng gọn gàng không để lại gié lúa nào cho người đi mót.
– Sao anh không viết thư cho em, tại sao? – Sarah nức nở.
– New York đúng là một thành phố lớn, – anh chàng Walter nói với người yêu. – Anh đi tìm em cả tuần nay theo địa chỉ cũ. Hôm thứ năm anh mới biết rằng em đã chuyển đi nơi khác. Điều đó cũng an ủi anh đôi phần; dù sao cũng không phải là ngày thứ sáu xui xẻo. Tuy nhiên anh đã phải nhờ cảnh sát tìm em khắp nơi.
– Em đã viết thư cho anh rồi mà! Sarah cuống quýt.
– Anh có nhận được đâu!
– Thế làm thế nào anh tìm được em?
Anh chàng nông dân nở một nụ cười mùa xuân. Anh nói:
– Tối nay anh ghé vào nhà hàng ở dưới kia. Anh không quan tâm nó có nổi tiếng không; mùa này anh thích ăn rau xanh. Anh đọc trang thực đơn được đánh máy rất sáng sủa của nhà hàng để tìm một món rau. Khi anh đọc tới món ăn bên dưới món bắp cải anh lập tức gọi chủ nhà hàng tới và ông ta nói cho anh biết em sống ở đâu.
– Em nhớ, – Sarah nói, – dưới món bắp cải là món rau bồ công anh.
– Dù ở bất cứ đâu anh cũng nhận ra cái chữ W kì quặc em đánh máy, – anh chàng Walter nói.
– Sao, tên món bồ công anh làm gì có chữ cái W nào đâu, – Sarah tròn mắt ngạc nhiên.
Anh chàng nông dân rút tờ thực đơn trong túi áo ra và chỉ cho Sarah tên món ăn bên dưới món bắp cải.

Sarah nhận ra tờ thực đơn đầu tiên mà chiều đó cô đã đánh máy. Trên tờ thực đơn ấy một vài chỗ đã bị những giọt nước mắt của cô làm nhòe. Nhưng ở đúng vị trí mà đáng lẽ người ta phải đọc thấy tên một món rau đồng nội, sự hồi tưởng về những bông hoa vàng đã cho phép cô gõ lạc phím.
Giữa món bắp cải đỏ và món ớt xanh là món:
“ANH WALTER YÊU THƯƠNG, TRỘN VỚI TRỨNG LUỘC.”.

Nguyễn Bích Lan dịch