Đầu Xuân, nghĩ về tinh thần hòa hiếu của dân tộc Việt

896

Hòa hiếu là bản chất của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy điều vô cùng sống động và rõ nét. Là một dân tộc trải qua nhiều đau thương, mất mát trong các cuộc chiến tranh, thế nhưng bản chất hòa hiếu đã ăn sâu vào tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt. Khi đất nước có chiến tranh, đến những nhà sư cũng cởi cà sa khoác chiến bào ra trận diệt quân thù. Khi đất nước sạch bóng quân thù, họ lại trở về tụng kinh, gõ mõ với câu kinh kệ sớm khuya. Có lẽ vì vậy mà gươm thần được trả để chúng ta hôm nay có địa danh hồ Hoàn Kiếm. Một dân tộc mà khi “Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” (Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi).

Trong lịch sử, sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, các triều đại phong kiến xưa không những ban hành những chính sách để ổn định, cấu kết lòng dân, hòa hợp dân tộc mà còn thể hiện bao dung, hòa hiếu với cả kẻ thù. Trên 7 thế kỷ trước, Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, sau khi lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan cuộc xâm lăng lần thứ ba (1288) của giặc Nguyên xâm lược, bắt được hòm tờ biểu của những người Việt gửi cho quân Nguyên để xin được làm quan (ta có thể gọi đó là Việt gian phản quốc), Thượng hoàng và nhà vua đã có hành động “Vô tiền, khoáng hậu”: Ra lệnh đốt hết các bức thư ấy và không truy cứu một ai. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng “Thượng hoàng sai đốt đi để yên lòng những kẻ phản trắc”.

Đoàn Việt kiều 3 thế hệ về nước tham dự đại lễ cầu siêu “Quốc Thái Dân An” tại chùa Phật tích tỉnh Bắc Ninh đầu năm 2009. (Nguồn: Dân Trí/Quốc Đô)

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV, vị thủ lĩnh của nghĩa quân – Lê Lợi luôn chăm chú vỗ về, và rất lưu ý tình đoàn kết quân dân. Đặc biệt, ông luôn tạo điều kiện để những kẻ lầm đường, lạc lối “đái công, chuộc tội”: “Đối với những người lầm đường theo giặc, nếu hối cải trở về với Tổ quốc thì tha thứ cho đái tội lập công”. Sau khi đánh tan quân Minh xâm lược, vì căm tức trước những tội ác dã man mà quân xâm lược đã gây ra, nhiều người khuyên nhà vua hãy giết hết số quân Minh đã đầu hàng, vua Lê Thái Tổ đã dụ những lời vô cùng nhân đức: “Việc phục thù trả oán là thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người là bản tính của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới muôn đời, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thưở, công việc sẽ chép vào sử xanh, tiếng thơm sẽ truyền mãi tới ngàn thu, há chẳng lớn ư!”.

Sau khi chiến thắng giặc Thanh xâm lược, không những chiêu nạp và nuôi dưỡng tất cả tù binh và tàn binh quân Thanh, vua Quang Trung đã sai thu nhặt xác quân Thanh trên các chiến trường chôn cất và lập đàn cúng tế. Bài văn tế của nhà vua trước nấm mồ quân xâm lược đã biểu thị tấm lòng khoan dung, độ lượng của người chiến thắng: “Nay ta: Sai thu nhặt xương cốt chôn vùi/Bảo lập đàn bên sông cúng tế/Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc/Xuất của kho mà đắp điếm đống xương khô/Hồn các ngươi không vơ vẩn ở trời Nam, hãy lên đường mà quay về nơi hương chí/Nên kính ngưỡng ta đây là chủ, chan chứa lòng thành/Nhưng mong sao đáp lại đạo trời, dạt dào lẽ sống”.

Thử nhìn đông tây kim cổ, khi cách mạng Pháp nổ ra (1789 – 1799), vua Louis XVI  bị giết. Cách mạng Nga, Nga Hoàng và cả gia đình đều bị giết, …và nhiều, nhiều cuộc cách mạng khác mà kết cục cuối cùng thường là đầu rơi, máu chảy. Thế nhưng, Cách mạng tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị đã được mời làm cố vấn tối cao. Rất nhiều bậc quan to của triều đình phong kiến đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra cùng chung gánh việc nước. Đó là những Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Đặng Văn Hướng, Vi Văn Định, Phạm Khắc Hòe…

Tiếp nối truyền thống này, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nhà nước và nhân dân Việt nam đều có những chính sách nhân đạo với tù binh. Đặc biệt, tối 02 – 5 – 1975, hai ngày sau ngày trọng đại 30 – 4, trong buổi lễ trả tự do cho ông Dương Văn Minh và nội các chế độ Sài Gòn tại Dinh Độc lập, Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy quân khu 7 đã phát biểu: “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này, toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng …Đây là niềm hãnh diện chung của tất cả nhân dân Việt Nam chúng ta”. Đáp lời, người từng đứng đầu chế độ Việt Nam Cộng hòa – ông Dương Văn Minh cũng chân tình: “Ngày hôm nay, đại diện cho các anh em có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước…”.

Trong hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hòa đàm Paris đã kể một câu chuyện xảy ra ở quê bà – huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam – về một đám tang của một người nguyên là sĩ quan của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã đi định cư ở Mỹ 20 năm. Theo nguyện vọng của ông, thi hài ông được đưa từ Mỹ về Việt Nam mai táng. Điều hết sức cảm động, theo bà “người đọc điếu văn là con trai một liệt sĩ cách mạng, cháu một bà mẹ anh hùng”. Một dân tộc hòa hiếu và nhân đạo với cả quân thù, nét đẹp ấy là điểm son chói sáng của văn hóa Việt Nam, là điểm đặc sắc của văn hóa Việt Nam.

Thấu hiểu điều này, ngay từ rất sớm, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm thực hiện hòa hợp và hòa giải dân tộc. Nghị quyết 36 – NQ/TW ngày 26 tháng 3 năm 2004 của Bộ chính trị đã khẳng định: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Gần đây nhất, Chỉ thị 45-CT/TW ngày 19 tháng 5 năm 2015 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 36 về chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam (…) ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống (…) Phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú…”.

Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nữa khẳng định các quan điểm, chủ trương về đoàn kết, hòa hợp dân tộc: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”. Ngày 12 tháng 11 năm 2016, phát biểu tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài năm 2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn hoan nghênh và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài gắn kết với quê hương.

Cùng với những chủ trương, chính sách nhất quán về hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực để những chủ trương, chính sách này nhanh chóng đi vào cuộc sống bằng những việc làm hết sức cụ thể và thiết thực. Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành theo hướng tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho người Việt Nam ở nước ngoài trên các lĩnh vực: xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, về đầu tư kinh doanh; về quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài (tháng 9-2007); Luật Quốc tịch sửa đổi tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài có thể giữ quốc tịch Việt Nam trong khi mang quốc tịch nước khác (tháng 11-2008); Luật sửa đổi điều 121 Luật Đất đai và điều 126 Luật Nhà ở mở rộng thêm đối tượng và quyền cho kiều bào được mua và sở hữu nhà ở trong nước (tháng 6-2009) v.v…Các hoạt động tập hợp, vận động, gắn kết kiều bào ở trong và ngoài nước ngày càng có nội dung phong phú và hình thức đa dạng hơn như tổ chức các đoàn kiều bào tiêu biểu về thăm đất nước dịp Quốc khánh, Quốc giỗ Vua Hùng, trại hè cho thanh niên, sinh viên kiều bào… Nổi bật trong thời gian gần đây là các chương trình Xuân quê hương, người Việt ở nước ngoài với chủ quyền biển đảo; dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa, tổ chức đại lễ cầu siêu v.v…

Những chủ trương, chính sách này đã thật sự làm thay đổi nhận thức của rất nhiều người. Ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên Phó Tổng thống chế độ Sài Gòn nổi tiếng là người “chống cộng” kịch liệt. Thế nhưng sau khi về quê hương, chứng kiến sự đổi thay của đất nước và những chủ trương, chính sách về hòa hợp, hòa giải của Đảng và Nhà nước Việt Nam ông đã phải công nhận rằng những người Cộng sản Việt Nam hiện đang làm rất tốt và làm tốt hơn các ông. Ông đã thẳng thắc bộc bạch: “Người ta nói trăm nghe không bằng một thấy nên tất nhiên về nước thì có dịp kiểm chứng lại mọi điều một cách cụ thể, rõ ràng và chi tiết hơn. Tôi rất mừng là đất nước đổi mới nhiều”. Và: “Tôi sẽ nói về sự tiến triển, không khí và tình hình của đất nước để cho họ thấy, từ đó thuyết phục những người chưa hiểu: đã đến lúc phải hòa hợp, hòa giải giữa anh em với nhau để xây dựng đất nước chứ ngoái cổ lại nhín dĩ vãng rồi hận thù, chua chát, cay đắng thì đâu có được”.

Để xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng cần có sự chung sức đồng lòng của cả dân tộc, trong đó không thể thiếu vai trò quan trọng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Để làm được điều đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần nhanh chóng để hiện thực hóa các chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ mọi định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau; tôn trọng những ý kiến khác nhau nhưng không trái với lợi ích chung của đất nước và dân tộc; tiến hành hòa giải dân tộc để cấu kết sức mạnh người Việt Nam ở trong và ngoài nước; phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung của tổ tiên, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển toàn diện, bền vững của đất nước.

Vũ Trung Kiên