Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai

724

Tiếng nói kẻ sĩ trên con đường cát…

(Đọc “Sa hành đoản ca” – của Cao Bá  Quát)

Chúng ta từng biết đến Cao Bá Quát (1809?- 1855), một con người nổi tiếng về tài năng, lừng danh về khí phách; đã từng vào đời bằng tuyên ngôn đầy ắp sự trẻ trung:

Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đồ

 Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay tạo rắp xoay cơn khí số”.

     Và cho đến phút cuối cùng của đời mình, đã ngã xuống giữa trận tiền và hy sinh trong tư thế chiến đấu.

     Nhưng, bên cạnh một hình ảnh Cao Bá Quát với sức sống mãnh liệt, giàu nghị lực, giàu niềm tin, sẵn sàng hy sinh để xoay đổi số mệnh, còn có một Cao Bá Quát – con người của những đêm không ngủ. Đến với các bài thơ: Dạ toạ, Độc dạ cảm hoài; Độc dạ tức sự; Độc dạ khiển hoài, Hàn dạ ngâm, Thu dạ độc toạ tức sự, Tự vũ chung dạ cảm tác…, ta luôn thấy chứa chất một bầu tâm sự day dứt, những băn khoăn nhức nhối, những nỗi đau đời của một trí thức luôn trăn trở với mình và không thể không lên tiếng trước thời cuộc.

      Trong chùm thơ đó, “Sa hành đoản ca” là một bài thơ ám ảnh.  

                                                       ***     

      Bài thơ viết theo thể hành – một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, không gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu. 16 câu dài ngắn khác nhau (6 câu 5 chữ; 9 câu 7 chữ; 1 câu 8 chữ); sử dụng nhiều vần – cả vần bằng, vần trắc; nhạc điệu tiết tấu biến hoá linh hoạt – bản thân hình thức ấy đã ít nhiều diễn đạt được sự gập ghềnh trúc trắc của những bước đi trên cát – và khúc tâm trạng với nhiều xung đột, biến tấu của nhân vật trữ tình.

       Cả bài thơ xoay quanh hai trục hình tượng: cát và tiếng hát – tiếng lòng của người đi trên cát.

     1. Hình tượng cát

       Trường sa phục trường sa

        Nhất bộ nhất hồi khước”

(Bãi cát dài lại bãi cát dài/ Đi một bước như lùi một bước)

       Ai đã từng qua dải đất miền Trung khắc nghiệt, quanh năm chỉ có gió Lào và cát trắng, sẽ hiểu cảm giác ngun ngút cô đơn của khách bộ hành khi trước mặt chỉ có cát và cát! Cát trải mênh mang giữa cái nắng chang chang; cát bay mịt mù trong những chiều trở gió. Đặt trong bối cảnh thời gian: “Mặt trời đã lặn” con đường cát càng trở nên thăm thẳm mịt mùng, không biết đâu là chốn dừng, không biết đâu là bờ là bến.

Đến phần kết bài thơ, con đường ấy còn như bị vây bọc bởi phía Bắc núi tiếp núi, phía Nam sóng muôn đợt. Lối điệp ngữ, đối ngữ “Bắc sơn chi Bắc”/ “Nam sơn chi Nam”; “Sơn vạn điệp”/ “Ba vạn cấp”  như dựng lên cái thế trùng điệp của những bức tường thành đã chặn đứng con đường đi của người lữ thứ.

Nếu ở câu thơ đầu, tác giả dùng 4/5 thanh bằng, và sự lặp lại tiếp nối của hai chữ Trường sa… trường sa như mở ra một không gian vô tận, thì ở ba câu tiếp, tác giả lại sử dụng mỗi câu 4/5 thanh trắc: “Nhất bộ nhất hồi khước/ Nhật nhập hành vị dĩ/ Khách tử lệ giao lạc”;  tiết tấu của câu thứ hai buộc ta phải đọc rời: Nhất bộ/ nhất/ hồi khước (2 – 1 – 2) cảm giác như nghe được cả bước chân nhọc nhằn và hơi thở đứt nhịp của khách bộ hành trên mỗi bước của dặm đường thiên lý, càng dấn bước càng như lún xuống. Dường như không còn ý niệm về sự tiến triển.

     Thực ra, hình ảnh con đường và hình tượng người đi đường vốn không xa lạ gì trong văn chương kim cổ. Vì vậy, khi nhà thơ nhắc đến chuyện “Đăng sơn thiệp thuỷ” (Lội nước trèo non) hay “thản lộ”; “uý lộ” (Đường bằng phẳng; đường ghê sợ) rồi “Bôn tẩu lộ đồ trung” (tất tả trên đường) thì hình ảnh con đường đã trở thành biểu tượng cho đường công danh nhọc nhằn; con đường đời mờ mịt mà tác giả và bao trí thức đương thời phải đi.

      Nét sáng tạo mới mẻ ở đây là con đường ấy là đường đi trên cát. Thơ xưa thường nói đến cát gắn liền với vẻ hùng vĩ, tráng lệ của thiên nhiên, ở đây, cát lại hiện lên như hoang mạc cuộc đời. Hình ảnh thơ đã thoát khỏi khuôn sáo ước lệ để đem lại cho người đọc ấn tượng mới mẻ, cụ thể đến gai gợn, rùng mình của thứ ngôn ngữ được sinh ra từ mồ hôi nước mắt trầy trật của cuộc đời! Mặt khác, hình ảnh con đường xuất hiện giữa lúc mặt trời đã lặn còn gợi liên tưởng đến nhữnghiểm họa, tai ương, bất trắc đối với kẻ tài hoa đang dầm chân trong bóng đêm của chế độ phong kiến sắp suy tàn.

     Cả bài thơ đặt trong ràng rịt những mối quan hệ, những mâu thuẫn: bài ca thì ngắn, bãi cát thì dài; mặt trời đã lặn, khách chưa dừng đựơc. Mọi người đua chen nơi quán rượu, mình ta bước; người tỉnh thì ít, người say thì nhiều; bước đường cùng rồi, mình ta trên cát… Ở mười câu đầu của bài thơ, không gian mịt mùng nhưng vẫn là không gian động – vì khách bộ hành vẫn mải mê dấn bước. Dù mặt trời của thiên nhiên đã lặn, nhưng mặt trời lí tưởng trong lòng anh ta vẫn hối thúc. Đến mười câu sau, khách đã dừng, không gian như bị đóng sập bởi núi chắn phía Bắc, biển động phía Nam. Hình tượng con người hiện ra thật cô độc nhỏ nhoi, nhưng vẫn quả quyết và mạnh mẽ. Bởi người ấy đã đi, xuyên qua đêm tối, qua những trảng cát, cả đến khi “tuyệt lộ cùng đường” không còn chỗ để đi, anh ta như vẫn không chịu dừng.

     Vậy người đi đường ơi, anh là ai?

     2. Người đi đường

     Ở bốn câu đầu, hình tượng con người được đặt trong thế đối lập với không gian, thời gian để ấn tượng về nỗi cô đơn hiện lên thăm thẳm. Đến sáu câu tiếp theo, hình ảnh con người lại đối lập với chính con người (“khách bộ hành” – kẻ phàm trần – đối lập với “tiên ông” – người có phép lạ; khách bộ hành nhọc nhằn “đi một bước như lùi một bước” – đối lập với những kẻ tất tả đua chen say theo mồi vinh hoa nơi “phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu”) và cuối cùng: “Quân hồ vi hồ sa thượng lập” – chỉ còn nỗi hoang mang đến cùng cực, tâm trạng đau đớn đến bế tắc – “Anh đứng làm gì?” – có phải anh đang tự mâu thuẫn với chính mình không? Một loạt câu hỏi: “nại cừ hà?” (biết tính sao đây?) “Quân hồ vi hồ sa thượng lập” (anh đứng làm chi trên bãi cát) đến 200 năm sau còn vang lên thống thiết.

     Những câu hỏi riết róng, bức bối đến nao lòng.

     Một hình tượng thơ thật lay thức và ám ảnh.

     Nếu biết rằng đến giữa thế kỷ XIX, nhu cầu đổi mới, canh tân đất nước đã được đặt ra khắc khoải, khẩn thiết; người Việt Nam nói chung và Cao Bá Quát  nói riêng đã tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây; và Cao Bá Quát  – con người mẫn cảm – đã có cảm nhận bước đầu về sự cần thiết của đổi mới  giáo dục qua cái nhìn chán ghét với lối học cũ (giật mình khi ở xó nhà – văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi) – mới thấy sức chứa, sức gợi mở của hình tượng. Cao Bá Quát – con người từng nổi tiếng thần đồng, tiếng tăm lẫy lừng khắp Kinh Bắc và Long Thành – 14 tuổi đứng đầu xứ trong kì thi khảo hạch; chín năm, sau bốn lần đi thi mới đỗ Cử nhân (1831); đỗ thứ Nhì ở trường thi thì bị Bộ Lễ đánh tụt xuống chót bảng; rồi chín năm sau nữa, ba lần thi Hội tiếp, đều bị đánh hỏng; mười năm sống trong cảnh bần bách, đến 1841, chế độ phong kiến tự thấy không dùng ông thì không có lợi mới giao cho một chân thơ lại nhỏ mọn ở Huế thì liên tục bị cách chức, bị tù đày, có lúc phải chịu những nhục hình man rợ… mới hiểu vì sao, đường công danh là con đường ghê sợ – mỗi bước đi, một nóng bỏng; mỗi bước là nước mắt tuôn rơi (Khách tử lệ giao lạc!). Bài thơ kết thúc trong hình ảnh: mặt trời đã lặn, đường đã hết nhưng âm hưởng của tiếng sóng vang động, dào dạt hay bão tố của cõi lòng còn vang lên thổn thức giữa nhân gian. Tuyệt vọng, cùng đường mà bi tráng.

Mà trước mắt ông, giai cấp thống trị từ vua quan đến lý dịch cường hào đều một phường ác bá. Trong thư gửi bạn Lê Hi Vĩnh, Cao Bá Quát đã viết:

Và báo cho bạn cũ tôi là Lê Hi Vĩnh biết

Rằng tôi còn khoẻ, không chết chỉ mắc chứng điên mà thôi!”

***

     Ở bài thơ, hình tượng người đi trên cát được tác giả thể hiện không đơn nhất mà đa chiều – khi thì được miêu tả như một khách thể (nhà thơ tự tách mình ra để ngắm mình “Khách tử lệ giao lạc”; khi xuất hiện như một người đối thoại (“Quân bất học tiêu gia mĩ thuỵ ông” ; “Quân hồ vi hồ sa thượng lập”); có lúc lại được miêu tả như một chủ thể ẩn đi sau câu hỏi trăn trở suy tư (“nại cừ hà?”). Như vậy, cái tôi trữ tình như được  đặt trên một bàn xoay – khẽ xoay chiều này – ta gặp con đường cô đơn; khẽ xoay chiều kia – ta gặp con người oán hờn, khẽ xoay khẽ xoay – ta gặp con người trong nỗi đớn đau, phẫn uất… những cảnh huống, những tâm trạng, những nỗi lòng, vì thế mà không nguôi trăn trở.

      Đến đây, có thể ai đó sẽ hỏi rằng: Con đường danh lợi chông gai nhọc nhằn như vậy, họ đi để làm gì? Rồi vừa đi vừa kêu khổ?

      Bi kịch là ở chỗ ấy. Biết là gian truân mà ta đâu dễ gì chối bỏ! Dù đã sớm nhìn ra bộ mặt nhếch nhác của bọn kẻ sĩ… “Nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn”… “mỏi gối quì mòn sân trướng phủ” (Tài tử đa cùng phú). Nhưng người thanh niên họ Cao vẫn phải dùi mài nghiên bút, đi học, đi thi. Bởi muốn thực hiện chí khí và hoài bão “trí quân trạch dân”, người trí thức xưa không còn con đường nào khác. Có chăng, cái khác giữa Cao Bá Quát và phường danh lợi là ở sự nhận thức, đánh giá, lựa chọn cách sống. Dù thất bại chồng chất trong trường thi cũng như trên hoạn đồ, nhưng chưa bao giờ, ông chịu đánh đổi phẩm chất của mình để kiếm tìm công danh phú quí. Chính vì thế, sau này, Cao Bá Quát đó đứng lên chống lại triều đình và phải chịu lưỡi gươm oan nghiệt cùng án tru di tam tộc bi thảm. Giữa cuộc đời và trong những trang văn – Cao Bá Quát vẫn là một hình tượng thơ tỏa sáng.     

***

   “Sa hành đoản ca”- tiếng hát ngay từ đầu đã hóa thành tiếng khóc. Một tiếng khóc u uất và bi tráng chứa đựng sự phản kháng âm thầm với trật tự xã hội hiện hành, khi triều đình nhà Nguyễn vẫn cố bấu víu vào hệ thống triết lý quản lý đất nước theo đạo Nho lạc hậu, nhắm mắt trước thời cuộc, không lắng nghe tiếng nói của nhân dân và người hiền tài để đất nước rơi vào tay giặc. Câu hỏi riết rúng cuối bài thơ vang lên như bi phẫn, dốn nộn, thôi thúc, đòi hỏi sự thay đổi tất yếu trong nay mai.

 

Thái Nguyên, rạng sáng 12/ 9/ 2013