Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

1023

VNTN – Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam tự hào đã sáng tạo và xây đắp nên một nền văn hóa đặc sắc mà một trong những nét tiêu biểu ấy là truyền thống tôn sư trọng đạo. Việc hiếu học và kính trọng người thầy luôn là đạo lý cơ bản của người Việt Nam. Người Việt Nam hẳn không mấy người lại không nằm lòng câu ca dao:

Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

Người thầy sở dĩ tạo được sự kính trọng của xã hội bởi người thầy là biểu trưng cao đẹp của đạo đức. Thầy không chỉ là người truyền dạy kiến thức mà cả đạo làm người.
Trong đạo lý dân tộc Việt Nam, người thầy được tôn trọng và xếp ở vị trí cao, sau vua và trên cả cha: Quân, sư, phụ. Bởi “Không thầy đố mày làm nên”.

Lần giở trong văn chương và lịch sử nước nhà, chúng ta bắt gặp rất nhiều những câu chuyện cảm động của tình thầy trò:
Đó là một Lê Quát, Phạm Sư Mạnh cho dù làm quan đến Tể tướng của triều đình, nhưng mỗi khi về thăm thầy dạy của mình là Chu Văn An luôn lấy làm vinh dự được quì bên giường của thầy và thấy vinh hạnh khi được thầy hỏi han. Có lần, Phạm Sư Mạnh về thăm thầy, quân lính thét loa làm huyên náo cả phiên chợ quê, biết chuyện, thầy ông là Chu Văn An đã quở trách. Từ đó mỗi khi về thăm thầy, các ông đều mặc áo vải thô và đi bộ để giữ đúng lễ thầy trò. Đó là một Lê Hiến Tông thường xuyên về thăm thầy dạy của mình ở vùng quê Thái Bình và được thầy cho ăn cơm với canh cua đồng, nhà vua nói “Thầy cho con ăn bát canh này là cho con cả một niềm hạnh phúc”. Vua Hàm Nghi bị giặc bắt, nhà vua luôn từ chối tiếp xúc với mọi người, khi các quan vào thăm, nhà vua không nói nửa lời. Thực dân Pháp thực khó phân biệt đâu là thật giả bởi mấy năm liền dầm mưa dãi nắng nơi miền sơn cước nên hình dáng nhà vua tiều tụy đi nhiều. Thế nhưng khi thấy thầy dạy mình là Nguyễn Thuận đến thăm, vua vái chào thầy. Qua cử chỉ ấy, thực dân Pháp mới chắc chắn đó chính là vua Hàm Nghi. Vua Duy Tân đến tuổi “nạp phi”, bao nhiêu tiểu thư khuê các của các gia đình quyền quý đều mong muốn lọt vào mắt xanh của vua. Nhưng cuối cùng nhà vua đã chọn Mai Thị Vàng, con gái thầy dạy của mình là Mai Khắc Đôn. Giải thích về lựa chọn này, nhà vua nói: Thầy Mai Khắc Đôn dạy cho vua biết yêu nước, thương dân, biết gần người trung, xa kẻ nịnh thần nên vua tin rằng con gái thầy cũng được thầy dạy cho những điều tốt đẹp như vậy.
Tôn sư trọng đạo không chỉ giữ lễ với thầy khi thầy còn sống mà cả khi thầy không còn. Bởi thế cho nên, nếu thầy và vợ thầy mất, học trò đều tổ chức để tang như để tang cha mẹ mình trong 3 năm. Các học trò còn làm lễ giỗ thầy cho đến hết đời. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên, mất năm 1937, khi ấy quá nửa học trò mà ông dạy dỗ cũng đã mất, còn lại hơn 200 người đã tề tựu đông đủ khăn trắng, áo dài tế thầy, sau đó góp tiền mua ruộng để lấy hoa lợi dùng cho việc hàng năm cúng giỗ thầy. Tiến sĩ Phan Thanh Giản – vị tiến sĩ đầu tiên của miền Nam là học trò của tiến sĩ Hoàng Thì Bình người Từ Liêm Hà Nội vào làm đốc học Vĩnh Long, khi đương chức thượng thư triều đình đã cùng học trò cũ xin phép được tế sống thầy để ghi nhớ công ơn dạy dỗ.
Cũng bởi lòng tôn kính thầy nên học trò luôn noi theo chí hướng của thầy và làm theo thầy.
Khi Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng vào năm 1858, 365 học trò của Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị đã theo thầy lập đội nghĩa tử chống Pháp. Khi thầy mất, học trò là Phạm Thận Duật khi ấy đang là thượng thư Bộ Hình đã thay mặt các học trò viết điếu thầy “Than ôi! Học trò cũng như con, vậy mà thầy ốm chúng con chẳng được hầu thuốc, thầy mất chúng con chẳng được tiếng khóc đưa. Thầy coi học trò như con mà học trò chẳng thờ thầy được như cha. Đau xót thay, khóc mà viết”. Tống Duy Tân cũng là học trò của thầy, khi đang là thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp đã viếng thầy “Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thể chìm nổi mấy độ, đệ tử coi thầy như thân phụ, mất còn chung thủy mãi trăm năm”. Khi thực dân Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, Hoàng Giáp Lê Đình Diên đã tụ tập văn thân và học trò bàn cách đánh Pháp. Có lần thực dân Pháp cho tay sai đánh ông giữa đường. Nghe thầy bị đánh, 300 học trò đã luyện tập võ bị, kéo đến Văn Miếu tuyên thệ đánh Pháp để rửa nhục cho thầy.
Trong khi nước mất nhà tan những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, đã có biết bao học trò qua các bài giảng yêu nước của các thầy đã bỏ học để tìm đường cứu nước. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, ở nhiều trường học, cả thầy lẫn trò đều đăng kí tòng quân để giết giặc giải phóng nước nhà.
Thế nhưng trong biển người mênh mông suốt bao nhiêu thế hệ, không phải tất cả học trò đều giữ được truyền thống tôn sư trọng đạo cao quý này. Bằng chứng là cũng có không ít những chuyện đau lòng về tình thầy trò, tiêu biểu như Nguyễn Trang, học trò của tiến sĩ Lý Trần Quán thời Lê Mạt thế kỉ XVIII với câu nói nổi tiếng “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa chẳng bằng yêu thân” đã đưa ông vào số những học trò vô ơn, bội nghĩa trên đời. Lịch sử cũng sẽ không quên tên học trò bội bạc Cao Ngọc Lễ đã bán đứng thầy mình là lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp Tống Duy Tân cho giặc. Đến nỗi sau này khi y được thực dân Pháp bổ làm quan thì đi đến đâu nhân dân cũng phỉ nhổ và tẩy chay. Một kẻ sĩ đương thời đã phải hạ câu “Vô địa khả mai Cao Ngọc Lễ”. Con người ta khi chết sẽ trở về với đất nhưng những kẻ bội bạc dường kia không đất nào có thể dung chứa nổi.
Truyền thống Tôn sư trọng đạo của dân tộc được cả cộng đồng, cả dân tộc vun đắp, vì thế nó trở thành thói quen, thành nếp ứng xử chung của cộng đồng. Nhưng có lẽ, để răn đe những kẻ bội bạc với thầy, các triều đại xưa luôn có những điều khoản xử phạt nặng đối với những kẻ vô ơn, vô nghĩa với thầy nhưng lại hết sức nhân đạo nếu học trò nào biết hối lỗi, sửa sai. Bộ Luật Hồng Đức triều Lê trong thế kỉ XV đã có nhiều điều khoản quy định rất rõ về vấn đề này như: “Học trò phải tôn kính thầy, chăm chỉ về đường thực học, lấy đức hạnh làm gốc…Quên ơn nghĩa, khinh nhờn thầy sẽ bị phạt suốt đời không được đi thi, không được làm quan và không được giữ nghề nghiệp. Nếu biết lỗi mà từ tạ làm đẹp lòng thầy thì cũng tha cho. Kẻ nào khinh nhờn thầy sẽ bị phạt cỗ tiền 50 quan, đánh chửi thầy và tiền tạ tăng thêm 15 quan và bị đánh 80 trượng (…). Học trò đánh thầy và lăng mạ thầy thì phải tội hơn tội lăng mạ người thường ba bậc (…). Những cha mẹ, vợ con của các học trò đánh chửi thầy sẽ bị phạt 80 trượng (…). Các học trò vô lễ này suốt đời không được làm nghề dạy học. Nếu tự biết tội và tạ từ với thầy thì thầy cũng tha cho (…). Cha mẹ học trò phải răn con em về đạo thờ thầy, khi gặp thầy phải kính cẩn có lễ phép, không ai được trái lệnh, nếu không thì sẽ bị ghép vào tội bất kính”.
Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc đã có từ xưa và vẫn không ngừng chảy trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Những câu chuyện cảm động về tình thầy trò nêu trên chỉ là những con số ít ỏi và may mắn được lịch sử ghi lại. Trên đất nước này, qua bao nhiêu thế hệ chắc chắn có vô vàn những câu chuyện đẹp, cảm động về tình thầy trò đã hòa tan vào hồn thiêng sông núi, góp phần tô điểm nền văn hiến Việt Nam.
Trước cuộc sống xô bồ hôm nay, truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc có lúc bị xói mòn. Nhưng đó chỉ là thiểu số. Tình cảm của học trò đối với thầy cô vẫn còn nguyên giá trị. Vẫn còn đó những câu chuyện về tình thầy trò mà mỗi khi nhắc đến lại tạo cho mọi người sự êm ái của tâm hồn.
Các học trò cũ của thầy Nguyễn Vĩ như nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, cố Phó Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Trần Hoàn thường về thăm thầy, đưa thầy đi thăm thú các nơi… Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Minh Triết sau khi được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước đã đi xe ca về thăm thầy giáo cũ ở Củ Chi. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đi xe máy về thăm thầy mình… Trên đất nước này, với truyền thống tôn sư trọng đạo đã có từ xưa và được vun đắp làm giàu qua bao thế hệ, hàng ngày, hàng giờ vẫn còn đó vô vàn những tấm lòng thơm thảo của các thế hệ học trò đối với thầy cô.
Ở Huế những năm trước, trong trận lụt to vào đúng Ngày Nhà giáo Việt Nam, ở một lớp nọ, học sinh nghèo không đủ tiền mua quà tặng, các em đã vẽ một bông hoa vào một tấm ván và khiêng bông hoa ấy đến thăm từng thầy cô. Hình ảnh ấy thật sự đã tạo nên niềm cảm xúc sâu xa của tất cả mọi người.
Tiếc thay, những năm gần đây, báo chí và công luận đã tốn không ít giấy mực về sự xuống cấp của môi trường giáo dục, của đạo đức nhà giáo. Thế nhưng xin tất cả mọi người đừng vì những con số nhỏ nhoi ấy mà quên đi công lao của đại bộ phận thầy cô giáo.
Dù cho vật đổi sao dời, tình thầy trò vẫn là tình cảm thiêng liêng cao quý. Truyền thống tôn sư trọng đạo vẫn không bao giờ là chuyện cũ, vẫn sẽ mãi là nét đẹp trong dòng chảy văn hóa Việt Nam

Vũ Trung Kiên