Thơ và lời bình: Lời ru tháng Bảy

314

Ru anh
Bao năm thức với nắng mưa
Hôm nay anh ngủ say sưa dưới trời
Lưng em là một chiếc nôi
Bồng bênh câu hát như thời xa xưa
Dòng sông Thạch Hãn gió đưa
Một vầng trăng khuyết đôi bờ long lanh

Ngủ đi anh! Ngủ đi anh!
Trường Sơn mây trắng núi xanh trập trùng
Nhẹ như một chét lá rừng
Anh gầy giấc ngủ trên lưng cũng gầy
Nhón chân em vịn trời mây
Giữ êm cho gánh xương gầy bớt đau
Mẹ già tóc bạc hoa lau
Chiều nay ra tận ngõ sau khóc mừng
Hàng cau đứng lặng rưng rưng
Hạt mưa ngâu cứ ngập ngừng sẻ chia

Ngủ đi anh giữa trời khuya
Làng quê ta đó giặc kia tan rồi
Bờ tre tiếng cuốc bồi hồi
Phú Ân mình vẫn vọng lời hát ru
Cánh diều đẩy gió vào thu
Nghe trong tiếng sáo vi vu anh về
Bảy ngày tay ấp má kề
Để trăm năm trọn một bề làm dâu
Bảy ngày trầu thắm duyên cau
Cho lời ru sống bên nhau trọn đời

Ba mươi năm chẵn anh ơi
Đêm nay mới được hát lời ru anh
Bến lòng gác mái xuân xanh
Tình em vẫn trẻ bởi anh không già!
Ngoài kia xao xác tiếng gà
Trong này cánh võng la đà ru anh

Hình như có khúc quân hành
Bài ca anh hát vọng thành nước non

(Nguyễn Văn Thục)

Bài thơ Ru anh của Nguyễn Văn Thục – Lời độc thoại của người vợ đi tìm hài cốt của chồng là liệt sĩ từ Trường Sơn về quê nhà, sau 30 năm hy sinh. Nhân vật trong bài thơ chỉ có Em (vợ), Anh (chồng – gói xương liệt sĩ) và gián tiếp là hình bóng người mẹ của liệt sĩ.

Một tình cảm đặc biệt, chỉ có người vợ liệt sĩ mới nhận ra điều mà không ai nghĩ tới: “Bao năm thức với nắng mưa/ Hôm nay anh ngủ say sưa dưới trời”.

Trên đường từ Trường Sơn, nơi thượng nguồn dòng sông Thạch Hãn về quê nhà, hài cốt của anh nằm trong ba lô lúc nào chị cũng nâng niu trên lưng: “Ngủ đi anh! Ngủ đi anh!/ Trường Sơn mây trắng núi xanh trập trùng”. Giá còn nguyên vẹn hài cốt của anh cũng nặng trĩu trên vai nhưng đã 30 năm sương gió, đã qua đạn bom khói lửa nên chỉ còn: “Nhẹ như một chét lá rừng/ Anh gầy giấc ngủ trên lưng cũng gầy”. Chị thương chồng, chiều chồng, yêu chồng đến mức cõng anh trên lưng, ru anh ngủ ngon mà mỗi bước trên đường đưa anh về quê rất nhẹ nhàng: “Nhón chân em vịn gió mây/ Giữ êm cho gói xương gầy bớt đau”. Cụm từ “em vịn gió mây”, nhẹ như chị cõng anh bay trong vũ trụ về quê cho nhanh để “gói xương gầy bớt đau”. Đọc mà thắt lòng

Trên đường đưa anh về quê, hình ảnh chị hình dung ra đầu tiên rõ nhất là: “Mẹ già tóc trắng hoa lau/ Chiều nay ra tận ngõ sau khóc mừng”… Hai chữ “khóc mừng” đã là tuyệt bút của tác giả nói về hành trang tình cảm sâu nặng của người mẹ liệt sĩ khi đón hài cốt của con mình: buồn mà mừng vì…

Khi đưa hài cốt anh về tới nhà, chị vẫn ru anh: “Ngủ đi anh giữa trời khuya/ Làng quê ta đó, giặc kia tan rồi/ Bờ tre tiếng cuốc bồi hồi/ Phú Ân mình vẫn vọng lời hát ru/ Cánh diều đẩy gió vào thu/ Nghe trong tiếng sáo vi vu anh về”. Ấy là tình cảm quê hương thương nhớ anh, đón anh về, khi anh chưa về được thì dân làng vẫn biết ơn anh, nhớ anh : “Phú Ân mình vẫn vọng lời hát ru” anh đấy.

Nguyễn Văn Thục đã như hóa mình vào sự Ru anh có thật ở quê tôi, nhưng rồi “Ngoài kia xao xác tiếng gà” tác giả đã hướng ta sang một vũ trụ, một thế giới rộng hơn, có ý nghĩa hơn: “Bảy ngày tay ấp má kề/ Để trăm năm trọn một bề làm dâu”.

Ru anh là khúc tâm tình tâm huyết của nhà thơ Nguyễn Văn Thục dành cho Liệt sĩ, dành cho người Phụ nữ Việt Nam với một tình cảm sâu lắng nhất, sự biết ơn và trân trọng nhất. Đây là Lời ru tháng Bảy – Lời ru buồn đau mà không bi lụy cho tháng Bảy thiêng liêng –  tháng Bảy tâm linh.

 

Đỗ Lâm Hà