Một số tác phẩm của tác giả Hồ Thủy Giang

924

Sao xanh

Truyện ngắn

VNTN – Alô! Có phải Châu đấy không?

– Vâng! Tôi là Châu đây ạ!

– Châu đấy ư! Chào em nhé! Có biết ai đang gọi cho em không?

– Dạ.. xin lỗi…

– Tất nhiên là em không thể nhận được. Ba mươi năm có lẻ rồi còn gì. Anh gợi ý thế này nhé. Ngày ấy, có hai người thường ra con suối Bằng La để bắt cá. Họ là giáo viên dạy cùng trường… Em có nghe rõ lời anh không đấy?

Bên kia, giọng nói có vẻ hơi run:

– Dạ … anh cứ nói tiếp ạ.

– Một lần hai người đang mải mê bắt cá bỗng một con rắn hổ mang…

Anh có cảm giác như nghe thấy cả tiếng tim đập dồn dập ở phía đầu dây bên kia. Một lát, giọng nói cốlàm bình thản nhưng vẫn không giấu được nỗi bồi hồi cất lên:

– Vâng! Làm sao quên được! Anh Tùng phải không?

– Anh đây! Hơn ba mươi năm chìm nổi, bây giờ mới có dịp quay về. Đến uỷ ban nhân dân huyện, anh được biết em vẫn còn dạy ở Bằng La. Lạ thật! Anh thì chân trời góc bể. Còn em vẫn cứ ở nguyên một chỗ. Người ta nói em vẫn trẻ đẹp như xưa.

– Không có chuyện ấy đâu anh. Em có tóc bạc rồi.

– Anh sẽ đến em ngay, sau khi xong việc ở huyện.

– Vâng! Mời anh.

Mấy tiếng sau cùng phát ra từ ống nghe làm anh hơi phật ý. Anh muốn nghe ở Châu những lời khác thế.

Buông ống nghe, anh vẫn ngồi lì trên ghế. Anh buồn rầu thoáng nghĩ sao quãng thời gian dài gần một phần ba thế kỉ mà chỉ như một cái chớp mắt. Ngày mai, anh lại được gặp Châu. Vẫn là con đường từhuyện đến trường Bằng La đã quá quen thuộc với anh. Không hiểu lần trở lại này anh có còn được thấy Châu trong đôi mắt đỏ hoe bồn chồn đón đợi dưới gốc cây gạo già đầu bản như ngày nào mỗi lần anh đi họp huyện về. Phải rồi! Ngày ấy xa anh một ngày, Châu đã đứng ngồi không yên. Ngày ấy, tuy hiểu rõ tình cảm của Châu nhưng anh luôn chỉ coi cô như người em gái. Đi xa về, anh thường mua cho Châu khi thì tệp giấy viết, khi thì chiếc bút kim tinh, thậm chí có lúc là những túi kẹo vừng. Có lần, anh lén nhìn thấy Châu đặt túi quà của anh lên bàn mà khóc tấm tức như phải chịu nỗi oan uổng. Anh đoán những mòn quà của anh hình như không đúng chỗ. Hiểu vậy, nhưng anh không thể làm khác được. Tình cảm của anh và Châu lúc đó ngoài tình đồng nghiệp còn là tình thầy trò. Hồi ở trường sư phạm của tỉnh, anh là giáo viên năm cuối của Châu. Rồi sau trường giải tán, anh và Châu cùng được điều động về Bằng La. Hôm đầu tiên gặp nhau ở Bằng La, không hiểu sao Châu lại xin phép được chuyển cách xưng hô từthầy sang anh. Anh biết, lời đề nghị ấy hoàn toàn không phải là một hành vi vô lễ nên anh đã chấp nhận, tuy không mấy vui vẻ. Lúc đầu ngượng ngập đôi chút nhưng rồi cũng quen. Tuy cách xưng hô thay đổi, nhưng tận đáy lòng, trước sau anh vẫn chỉ coi Châu như cô học trò bé nhỏ khi xưa.

Thời gian cứ lửng lơ như con suối Bằng La lặng lẽ trôi xuôi như thế. Nhưng rồi cũng đến cái ngày Châu chủ động ngỏ ý cùng anh. Vào thập kỉ ấy, có lẽ cả cái xứ này chỉ mình Châu dám cả gan làm cái việc tưởng như trái quy luật ấy. Cô bảo với anh rằng, không phải bây giờ cô mới yêu anh mà ngay từ tiết học đầu tiên ở trường sư phạm, cô đã mang hình ảnh anh trong trái tim rồi. Đến hôm nay, cô đã yêu anh bằng một tình yêu không gì cưỡng nổi và mong anh thứ lỗi cho sự mạnh bạo thái quá này của cô. Có lẽphải dồn hết tâm lực mới nói nổi những lời vô cùng khó khăn ấy, nên vừa dứt lời, Châu đã ôm mặt khóc. Cô khóc đến giàn giụa nước mắt, khóc như thể con tằm vào độ chín, vội vã trút hết tơ để hoá thân sang làm kiếp khác. Nghe Châu bày tỏ, anh cũng run lên, cổ như tắc nghẹn. Anh muốn ôm lấy Châu và nói: “Anh yêu em! Em là cô gái đẹp và dịu dàng nhất ở đời này”. Thế nhưng, không hiểu sao, bỗng có một sức mạnh khốc liệt nào đó như từ trên trời rơi xuống níu lòng anh lại. Không ! Không được! Em chỉ là cô học trò bé nhỏ của tôi thôi Châu ạ. Rồi biết ăn nói với bạn bè đồng nghiệp, với học trò của chúng ta ra sao hả Châu? Hãy giữ gìn cho tình cảm thầy trò thật sáng trong Châu ạ. Anh khẽ gỡ bàn tay giá lạnh và run rẩy của Châu rồi lầm lũi đi về phía căn phòng đang hắt ra ánh đèn Hoa Kỳ leo lét. Anh thở phào. Cứnhư cái ánh sáng nhợt nhạt kia đã cứu anh ra khỏi một lỗi lầm. Châu vẫn ngồi chết lặng, thân thể nhưtan vào bóng tối.

Châu nằm lì trên giường mấy ngày liền, hầu như không ăn uống. Nhưng rồi sau đó trước sự ngạc nhiên của mọi người, bất ngờ cô ào trở dậy với khuôn mặt nhợt nhạt nhưng tươi vui thường thấy. Có lẽ chẳng mấy ai hiểu được rằng, cô như con tằm đã trút hết tơ, đã biến thành con bướm ngũ sắc, hồn nhiên bay lên trời xanh. Tình yêu của cô không chết mà đã hoá kiếp.

Rồi anh nhập ngũ. Buổi tối hôm ấy, cô nói với anh bằng giọng vui vui pha lẫn nỗi buồn:

– Ít ngày nữa anh đã xa hẳn nơi này. Tối nay, anh với em ra suối bắt cá để làm liên hoan. Anh có đồng ý không?

Anh lặng lẽ gật đầu

Cái buổi tối hôm ấy đã xảy ra một chuyện động trời. Đang bì bõm lội suối tìm cá, chợt một con rắn hổmang rất to từ bụi cỏ lao bổ về phía anh. Biết là không kịp tránh hàm răng khủng khiếp của con hổmang, trong nỗi hốt hoảng, anh nhắm nghiền mắt lại. Nhưng ngay lúc ấy, anh thấy tiếng Châu thét lên. Cô lảo đảo ôm chặt lấy vai anh. Trấn tĩnh trong giây lát, anh hiểu ra rằng Châu đã đưa chân ra che đỡvà nhận thay anh cú mổ ghê rợn của con rắn. Anh vội garo cho Châu rồi cõng về. May mắn là ở trạm xá có người biết chữa rắn cắn. Vết thương được rạch rộng để nặn máu và đắp thuốc. Do cứu chữa kịp thời nên chỉ vài ngày sau, Châu đã bắt đầu bình phục.

Nhưng khi vết thương ở chân Châu vừa lành thì cũng lại là lúc trái tim anh như bị chấn thương. Mấy ngày chăm sóc Châu trong trạm xá, anh mới nhận thấy một cách rõ ràng trời chỉ cho anh một người con gái duy nhất, người ấy có thể sẵn sàng chết thay anh, người ấy chính là Châu. Hình như mất Châu anh sẽ mất tất cả.

Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy thôi chứ anh thừa hiểu mọi chuyện đã quá muộn rồi. Anh không thể nói với Châu thêm một lời nào nữa. Mà dẫu có nói, Châu cũng khước từ anh. Người như Châu không bao giờđể chuyện ơn nghĩa xen vào tình yêu. Anh đành im lặng.

 Anh lên đường đúng vào ngày vết thương của Châu bắt đầu mọc da non. Anh nhìn trân trân vào vết sẹo trên bắp chân trắng mịn như nõn chuối của Châu với tâm trạng của một người mắc tội.

Châu bước thập thễnh tiễn anh ra khỏi cổng trường. Cô dựa vai vào cây gạo cổ thụ đang kì nở hoa, rạt ràn đỏ trên bầu trời Bằng La xám bạc. Anh ngoái lại mấy lần, nói trong nghẹn ngào:

– Châu ơi! Rồi anh sẽ quay lại!

Châu vẫn đứng tê tái dưới gốc gạo sần sùi. Hình như lúc ấy cô đang khóc. Nói một cách chính xác hơn là trái tim cô đang khóc. Cô không nghe thấy những lời nhắn nhủ da diết của anh vọng lại.

Hẹn thế, nhưng rồi cuộc sống khắc nghiệt đâu có chiều theo ý ai. Anh vào Nam chiến đấu. Đến ngày thống nhất đất nước anh cũng không trở ra Bắc vì gia đình không còn ai thân thích. Lúc ấy, một cô y tá cùng đơn vị, quê ở Cà Mau đem lòng yêu anh mê mệt. Rồi cưới. Rồi năm năm sau, chẳng lỗi tại ai, anh và cô y tá đã chia tay nhau trong một nỗi ngậm ngùi nhè nhẹ, không để lại một mụn con. Anh vùi đầu vào học tập và công tác cho nguôi nỗi cô đơn. Không bao lâu anh đã trở thành một ngôi sao sáng trong ngành lâm sinh. Anh được cử đi học nước ngoài, trở về với tấm bằng tiến sĩ loại ưu. Anh vẫn lao vào công việc, không muốn nghĩ đến việc lập gia đình. Không phải anh lập dị mà vì anh hoảng sợ. Kể từngày li dị, không hiểu sao hình ảnh vết sẹo ở chân Châu cứ thường xuyên quay về ám ảnh anh, kể cảtrong giấc ngủ. Bất cứ nhìn thấy vật gì mang hình hài vết sẹo là anh lại thấy tim đau buốt. Từ tia chớp ngoằn nghèo trên bầu trời, từ con đường mòn quanh co trên triền núi, từ cặp lông mày uốn lượn của một cô gái… cũng làm anh nhức nhối, gợi nhớ đến vết sẹo trên làn da trắng hồng, run rẩy của Châu.

Anh trở ra Bắc lần này với một nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu, khảo sát miền rừng núi phía đông Tam Đảo để chuẩn bị thực thi một dự  án lớn của ngành du lịch. Bằng La là một trong những địa bàn nằm trong tuyến rừng ấy.

Anh không dám nghĩ sẽ gặp Châu. Bấy nhiêu năm, chắc Châu đã xin chuyển về quê chứ đâu ở mãi cái miền rừng heo hút ấy. Vậy mà khi đến huyện người ta cho biết Châu vẫn bám trụ ở đấy, mặc dù nhiều lần phòng giáo dục thông cảm cho hoàn cảnh quá lứa nhỡ thì, muốn chuyển cô về trường thị trấn. Thông tin ấy làm anh buồn nhưng cũng loé lên một tia hy vọng. Biết đâu, anh và cả Châu nữa sẽ được đáp đền sau ngót một phần ba thế kỉ cô đơn. anh sẽ không để mất Châu một lần nữa.

  * * *

Anh nhận ra Châu ngay. Quả như lời đồn, Châu vẫn trẻ đẹp không khác xưa là mấy. Còn Châu, phải một lúc mới nhận ra anh. Dù biết ba mươi năm qua anh đã đổi khác quá nhiều, nhưng việc Châu không nhận ra anh ngay vẫn làm anh buồn u ám.

Anh bần thần ngồi xuống chiếc ghế mộc, ngó quanh căn nhà bé nhỏ, sơ sài của Châu:

– Em sống ở ngôi nhà này?

– Vâng! Anh đi được mấy năm thì em dựng một cái lều nhỏ ở đây.

– Em cứ ở một mình mấy mươi năm vậy sao?

Châu không trả lời, chỉ khẽ mỉm cười, đẩy chén nước đến trước mặt anh. Lát sau cô khẽ hỏi:

– Anh có nhận ra khu đất này không?

Anh ngơ ngác nhìn qua cửa sổ.

– Làm sao anh biết được. Mọi thứ đã thay đổi quá nhiều.

– Sau ngày anh đi ít lâu thì xã nắn lại con suối Bằng La để làm thủy điện nhỏ. Cái quãng suối ngày trước anh và em vẫn đi bắt cá trở thành một bãi đất rộng. Em đã xin cắm đất và làm nhà ở đấy. Đầu tiên chỉ là mái tranh. Năm năm trước, em mới có điều kiện xây cất.

Anh lúng túng:

– Có phải…đây chính là cái nơi mà…em…à…anh bị con rắn…

– Đúng thế! Nhưng ai bị cũng thế thôi anh ạ – Châu khẽ cười thành tiếng.

– Nhưng mà anh thì cứ ân hận mãi. Đến suốt đời!

– Có gì mà nghiêm trọng vậy. Ô… thế mà đã ba mươi năm. Nhanh thật. Bây giờ anh ra sao?

Anh bùi ngùi kể tất cả sự thật về cuộc đời riêng thiếu may mắn của mình cho Châu nghe.

Châu giấu một tiếng thở dài.

– Thế mà em cứ nghĩ…

Châu ngừng nói, lén lau nước mắt:

– Không ngờ anh cũng phải sống một mình như em. Nhưng em lại khác, em là đàn bà.

Vừa như vô tình, vừa như cố ý, một lần nữa anh nhắc lại sự cô đơn của mình với Châu.

Anh biết cô đã lắng nghe những lời anh nói không sót một tiếng, nhưng cô lại làm ra vẻ không nghe thấy gì. Như vô tình, cô chợt đứng dậy:

– Ấy chết! Em đoảng quá. Để em ra chợ mua ít thức ăn.

Anh có cảm tưởng việc xin phép đi chợ chỉ là cái cớ để Châu thoát khỏi cái vòng vây đang được anh sắp đặt.

Nửa giờ sau, Châu trở về với một xâu cá:

– Lâu nay em chỉ mua loại cá nhỏ này thôi, không hiểu anh có thích không? Loại cá này ngày trước chúng mình vẫn kiếm ở suối Bằng La ấy.

Anh bật cười:

– Em cho anh ăn cá mà như ăn kỉ niệm vậy. Nhưng đúng là anh rất thích. Thật đấy!

Châu tỏ ý vui nhưng mắt cô lại dân dấn ướt.

Bữa cơm ấy, cả hai đều không đụng đến một con cá nào. Dường như cả anh và cô đều không thể nuốt nổi những đắng cay của ba mươi năm xa cách.

Đến cái lúc dường như không chịu đựng nỗi, anh đã ôm chặt lấy Châu như người chuộc tội. Đôi vai nhỏcủa Châu run bần bật. Cô gục đầu xuống ngực anh khóc nấc lên. Khuôn mặt cô đầm đìa nước mắt. Anh như mê đi trong hạnh phúc. Anh để mặc cho những giọt nước mắt của cô chảy tràn trên vai áo mình. Anh hiểu đó là những giọt nước mắt ngưng tụ của mấy mươi năm, bây giờ mới có dịp tuôn trào. Đó là nỗi đau hạnh phúc.

Anh nâng Châu lên, định đặt một cái hôn lên đôi môi đẫm ướt của cô. Nhưng thật bất ngờ, bằng cử chỉdứt khoát, cô khẽ đẩy anh ra. Giọng cô lạc đi:

– Như thế đủ rồi anh! Ta ra bàn ngồi nói chuyện.

Anh như người bị rơi từ trên cao xuống, ngơ ngác tỏ ra không hiểu. Châu dắt anh đến bên bàn nước, đôi mắt buồn thăm thẳm:

– Thế đủ rồi anh ạ. Em cũng muốn khóc thế cho nhẹ người.

– Nhưng… chẳng lẽ… Châu không còn yêu anh nữa? Hay là em còn giận anh về chuyện cũ?

Châu không nói. Cô run rảy cầm vội chiếc ấm nhỏ, rót nước chảy tràn miệng chén mà không hề hay biết.

  * * *

Lúc đầu anh thoáng nghĩ Châu chưa chấp nhận tình cảm của anh chỉ vì quá bất ngờ. Nhưng càng vềsau anh càng hiểu rõ, những lời từ chối của Châu là không có gì lay chuyển được.

Sắp đến lúc chia tay, anh gặng hỏi cô trong tâm trạng vớt vát:

– Châu! Anh hỏi thật, vì sao chúng ta không thể đến được với nhau trong khi rất cần nhau?

Một lúc lâu lắm, Châu mới khẽ ngẩng lên, nhìn vào đôi mắt thẫm buồn của anh:

– Anh muốn biết thật ư? Thế anh không nghĩ được rằng lúc này đây chúng mình đã hoàn toàn không còn là của nhau nữa sao? Tất cả đã thuộc về quá khứ rồi.

– Nhưng chúng mình đều cô đơn và cần một mái nhà.

– Nhưng không phải là căn nhà này đâu anh ạ.

Ngẫm nghĩ hồi lâu, cô nói tiếp bằng một giọng rắn rỏi:

– Đúng là chúng ta cần một ngôi nhà. Nhưng với anh, cái cần hơn là những chân trời. Anh đừng chôn vùi sự nghiệp của mình trong cái mái nhà không yên tĩnh này của em.

– Không yên tĩnh? – Anh thảng thốt.

– Đúng thế anh ạ! Có thể anh không biết, nhưng em sống thanh thản với ngôi nhà này được từng ấy năm chính là nhờ những giấc mơ.

Anh hờn mát:

– Những giấc mơ ấy không có anh phải không? Ừ! Mà cũng bao nhiêu năm rồi còn gì. Anh không trách em đâu.

Cô khẽ lắc đầu. Những giọt nước mắt vỡ oà trên đôi má trắng bệch:

– Không! Em đã nằm mơ thấy anh. Ở ngôi nhà bé nhỏ và hoang vắng này, nhiều đêm, rất nhiều đêm em đã nằm mơ thấy anh và chỉ thấy anh thôi.

– Thế tại sao… tại sao…?

– Anh đừng ngắt lời, cứ để em nói. Em luôn nằm mơ thấy cái buổi tối anh cõng em về trạm xá. Đúng cái lúc thể xác đau đớn đến tê dại ấy, em đã nhận thấy là anh đã yêu em biết chừng nào. Người anh run lên, mặt anh tái mét. Anh đã khóc khi em gặp nạn. Chỉ những người yêu nhau thì mới thế. Lúc ấy, anh còn nhớ là em đã ôm anh rất chặt không? Em đã dồn hết sức lực cuối cùng để ôm lấy anh, sợ mất anh vô cùng. Là vì em nghĩ mình sắp chết. Vậy mà lúc ấy em lại thấy yên tâm đến lạ lùng. Được chết trên vai anh. Được chết vào cái lúc anh yêu em nhất. Em thấy đời em như thế là quá đủ.

Anh nắm lấy tay cô khẽ kêu lên, tiếng kêu khắc khoải như tiếng từ quy lúc trời sắp sáng:

– Trời ơi! Thì chính con người ấy đã trở về với em hôm nay đây.

Châu gỡ nhẹ tay anh:

– Không! Cái người cõng em buổi tối hôm ấy không phải là anh. Cho em xin lỗi. Đó chỉ là hình bóng của anh thôi.

– Ảo ảnh! Nhưng em và anh lại đang rất cần một sự thật chứ không phải là ảo ảnh.

– Kí ức chứ không phải là ảo ảnh đâu anh. Mà anh cho đó là ảo ảnh cũng không sao. Nhưng anh có hiểu rằng ở tuổi chúng mình nhiều khi lại cần những ảo ảnh hơn là sự thật không? Anh ạ, chính nhờ có cái ảo ảnh của buổi tối hôm ấy mà em đã sống vô tư, tươi vui và có ích bấy nhiêu năm trời. Anh ơi, phải hiểu cho em mới được. Nếu chấp nhận hôn nhân với anh là em đã phản bội lại cái kí ức mà em đã chung sống với nó gần tới trọn đời. Em quen mất rồi anh ạ. Thôi, nghe em, hãy đi đi. Cuộc đời của anh là con đường phía trước chứ không phải là ngôi nhà nhỏ bé này đâu. Mọi người cần anh, đất nước cần anh, một nhà khoa học tài năng. Em biết thế mà. Đừng xáo trộn lên nữa, mọi chuyện chắc gì đã tốt hơn. Nếu sau này số phận vẫn bắt anh phải cô đơn thì ráng mà chịu anh ạ. Cô đơn cũng là một cách sống. Nước mắt cô đơn nhiều khi lại làm cho người ta vinh quang và hạnh phúc hơn những nụ cười gượng gạo phải không anh.

Châu nói liền một mạch. Người cô cũng rủ xuống như phải chịu một sức nặng vô hình đè lên đôi vai bé nhỏ. Cô cố nở một nụ cười khô héo. Và anh biết đó là nụ cười của sự cách chia không gì cứu vãn.

Châu tiễn anh đến tận cây gạo già đầu bản. Cô dừng chân đúng cái nơi ngày trước cô vẫn thường đứng đợi mỗi lần anh đi họp huyện về. Chỉ có điều bây giờ mọi chuyện hoàn toàn ngược lại. Không phải cuộc đón đợi mà là cuộc ra đi, có thể là mãi mãi.

Anh lê từng bước chân trên con đường sẫm đỏ. Phía xa, phố huyện đã lên đèn, hắt lên bầu trời những quầng sáng nhạt. Bất giác, anh nhìn về phía Bằng La một lần nữa. Những chấm đèn leo lét, lác đác dưới chân rừng giống như những ngôi sao xanh từ lưng trời rơi xuống. Mắt anh nhoà đi. Anh hiểu chỉ vài năm nữa thôi, khi dự án khu du lịch hoàn thành thì rất có thể cái mảnh đất Bằng La heo hút kia sẽ trởthành một rừng sao sáng bởi những ánh đèn cao áp hiện đại. Nhưng anh cũng đau đớn nhận ra rằng, nơi ấy, có một ngôi sao xanh không bao giờ mọc nữa./.

Hồ Thủy Giang

Xem tiếp tác phẩm trang tiếp theo bên dưới