Một số tác phẩm của tác giả Hồ Thủy Giang

925

Chú bé đi giày một chân

Truyện ngắn

 VNTN – Đó là chú bé tôi rất hay gặp ở góc công viên thành phố. Hầu như chiều nào tôi cũng thấy chú lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế đá sứt, cặp mắt nhiu nhíu dõi cái nhìn mờ mịt ra phía bờ sông. Chú thường mang vẻ mặt cau có như luôn không hài lòng về một chuyện gì đó.
Một lần, nhân đã làm xong mọi thủ tục đo nước, do tò mò, tôi đi đến bên chú bé làm quen:
– Cháu đang nghĩ gì vậy?
Chú bé không tỏ vẻ ngạc nhiên hoặc hứng thú với câu hỏi đường đột của tôi,   
giọng như không:
– Tất nhiên là cháu đang nghĩ rồi.
Tôi tủm tỉm cười:
– Có thể cho chú biết cháu đang nghĩ gì được không?
Mắt vẫn không rời bờ sông, chú bé ngật ngật cái đầu húi cua nham nhở thản nhiên:
– Được thôi ! Cháu đang nghĩ về sự khác nhau giữa trẻ con và người lớn.
– Khác nhau? Chú không thấy có gì khác nhau cả.
Dường như mãi tới lúc này, chú bé mới quay lại phía tôi. Mà chú cũng chỉ nhìn lướt qua người tôi một chút rồi lại quay phắt đi ngay, đủng đỉnh nói:
– À, mà chú cũng là người lớn, làm sao chú hiểu được.
Tôi lí sự:
– Nhưng chú cũng từng là trẻ con cơ mà.
Chú bé cười nhạt:
– Người lớn bao giờ cũng quên mình là trẻ con.
– Nhưng cháu có hiểu rằng sau này cháu cũng trở thành người lớn không?
Hình như câu nói của tôi động vào nỗi đau sâu xa nào đấy, chú bé cất giọng chua chát, một kiểu chua chát già trước tuổi:
– Chưa chắc! Vì thế mà tôi đang suy tính xem mình có nên trở thành người lớn hay không đây! Người lớn các người đa phần là… biến chất hết.
Tôi ngạc nhiên thật sự trước ý nghĩ cực đoan có phần xấc xược của chú bé và  thấy cần phải tiếp tục câu chuyện:
– Này, nhưng cháu chưa chứng minh cho chú người lớn khác trẻ con như thế nào đâu nhé.
Chú bé nhếch mép dáng khinh bạc:
– Đầy rẫy như không khí mà chú. Ví như người lớn thấy mưa thì vội tìm nơi trú, cứ như là có thể chết ngay vì nước mưa được ấy. Còn trẻ con nhìn thấy mưa lại xông ra một cách khoái chí. Chú chịu chưa?

Tôi phì cười:
– Thì ra cháu chỉ dựa vào các biểu hiện bên ngoài thôi.
Chú bé xì mũi, lấy tay quệt một đường:
– Cháu không cần biết trong, ngoài gì sất. Cháu chỉ thấy khác nhau, thế thôi. À, mà còn thế này: người lớn các chú có dám cho nhau một nửa gia tài không? Chắc là đến mùa quýt. Người lớn mà cho nhau, giúp nhau một tí là phải tính toán, cân nhắc thiệt hơn chán. Thế mà thằng bạn cháu dám chia cho cháu một nửa gia tài của nó đấy.
Tôi trợn tròn mắt:
– Một nửa gia tàỉ? Gì mà ghê gớm vậy?
– Chứ sao! Đôi giày mới toanh! Đúng là cả cơ nghiệp của nó chỉ có đôi giày là lớn. Tháng trước trời rét căm căm chúng cháu ra bãi rác làm việc. Thấy cháu đi đất, nó liền cởi luôn cho cháu một chiếc, và bảo: “mỗi đứa ấm một chân, còn hơn một đứa rét cả hai chân”. Chiếc giày còn đây mà chú.
Tôi cúi xuống ngắm đôi chân đen nhẻm của chú bé đúng là chỉ có một bên giày. Tôi giật mình, ái ngại nhìn hai cẳng chân khẳng khiu, chằng chịt những vết xước bầm tím của chú bé.
– Sao chân cháu đến nỗi này? Không sợ nhiễm trùng à?
Chú bé nhún vai, giọng già đanh như một gã trải đời:
– Kiếm ăn mà! Đổ mồ hôi và máu để lấy miếng ăn là việc thường thôi chứ có gì đáng ngạc nhiên. Ngày nào cháu cũng lội vào bãi rác kiếm những thứ còn có thể tái chế để bán cho mấy bà đồng nát. Lạy giời, từ ngày thành phố có cái gọi là… là… à gọi là nền kinh tế thị trường, các loại vỏ hộp, vỏ chai thải ra nhiều lắm, chúng cháu kiếm ăn cũng khá hơn. Chứ cứ như ngót chục năm về trước thì bới chỉ ra bùn thôi chú a. Đói dài mồm.
Cổ tôi nghẹn lại:
– Ngót chục năm? Cháu làm nghề bới rác lâu đến thế rồi sao?
– Tám năm trong nghề rồi chú ơi. Năm lên bảy cháu đã có mặt trên bãi rác. Cháu là dân bụi mà. Chắc chú hiểu bụi đời là thế nào. Dạo này báo chí viết về chúng cháu nhiều. Câu khách ra trò.
Tôi phì cười trước sự khôn ngoan trước tuổi của chú bé.
– Thế nhà cháu ở đâu?
Chú bé cau mày:
– Chú ít hiểu về dân bụi quá. Đã là bụi thì lấy đâu ra nhà – Vầng trán thấp của chú bé hơi nheo lại – Với lại, chú thông cảm, chúng cháu không thích được hỏi những chuyện đại loại như nhà cửa, gia đình. Nhạt toẹt ấy mà!
Một lát, chú bé tươi tỉnh trở lại:
– À, mà từ nãy đến giờ chú toàn hỏi cháu. Bây giờ phải đến lượt cháu phải hỏi chú chứ.
Tôi vui vẻ:
– Nhất trí!
– Thế chú làm nghề gì?
Tôi thân mật giãi bày:
– Chú có hai nghề. Nghề thứ nhất là nghề thủy văn. Như cháu đã biết, ngày nào chú cũng phải ra đây để đo mực nước sông.
– Đo nước? Để làm gì hả chú? Có vẻ chẳng đem lại lợi ích gì cả.
Chạm tự ái nghề nghiệp, tôi hăng hái:
– Dốt! Đó là nghề nhằm dự báo cho con người biết trước lũ lụt. Nghề của chú có tầm quan trọng…
– Chỉ dự báo thôi hả chú? Thế khi lũ lụt kéo đến thì sao?
Tôi giải thích:
– Đó là thuộc trách nhiệm của nghề khác, của người khác. Nghề chú chỉ làm công việc dự báo thôi.
Chú bé buông thõng:
– Thế thì đúng là vô tích sự thật! Cháu thấy đài báo vẫn nói hằng năm có hàng chục, hàng trăm người chết vì nạn lũ lụt. Thế thì cái sự dự báo dự biếc của chú có ích quái gì? – Chú bé thở dài và nói tiếp – Đã là người lớn thì đều ích kỉ như vậy cả. Bao giờ người lớn cũng nói “Cái đó không phải do tôi, mà do người khác gây nên”.
Tôi vừa kinh hãi vừa bực về những nhận xét bất công rất trẻ con của chú bé nhưng không thể cố chấp nên đành im lặng.
Một lúc sau, chú bé hất hàm:
– Còn nghề thứ hai của chú?
– Nghề thứ hai của chú chỉ là nghiệp dư thôi, là nghề viết văn.
– Nghĩa là nghề viết ra những quyển truyện phải không chú?
– Đúng thế! Tôi vênh mặt tự hào.
– Tạm được! Cháu thấy các bà bán bánh kẹo, hoa quả ngoài chợ lúc ế hàng vẫn thường đọc truyện. Thỉnh thoảng họ còn khóc hoặc cười mủm mỉm. Dù sao, nghề ấy của chú còn có tác dụng giải trí.
Nghe thằng bé khệnh khạng khen, tôi muốn điên tiết lên. Tôi định quát vào mặt nó: “thằng này láo! Giải trí chỉ là chức năng hạng bét của văn chương. Mi có biết rằng nghề viết văn là nghề cao quý nhất, khó khăn nhất, là nghề có tầm dự báo nhân loại…”. Tôi sững lại. Vẫn dự báo! Dù là dự báo tầm nhân loại. Trước con mắt của thằng bé ất ơ này vẫn chỉ là những nghề vô tích sự mà thôi.
Chú bé hình như cũng cảm thấy mình quá lời, lát sau, dịu giọng:
– Chú bực cháu lắm hả? Xin lỗi chú. Cái tính cháu nó ngang cành bứa thế. Cũng chỉ vì tính khí thế mà cháu phải khổ như ngày hôm nay đấy chú ạ.

Bằng một vẻ u buồn, chú bé ngước nhìn tôi:

– Trước khi theo lão chồng mới vào Cà Mau sinh sống, mẹ cháu vừa khóc vừa dặn dò: “nếu con không biết tìm lời nói lễ phép, nhã nhặn thì con không bao giờ trở thành người lớn được đâu”. Vì thế cháu luôn nghĩ không biết có nên làm người lớn hay không?
Lúc này trời đã sẩm tối. Hơn nữa, thấy không thể một chốc một lát tranh luận được với cái ý tưởng “quái dị” ấy của chú bé, tôi hẹn chú tuần sau gặp lại.
– Ô kê! Liệu chú có sai hẹn không?
Chú bé ngoắc tay rồi lầm lũi bỏ đi.
Cuộc trò chuyện với chú bé làm tôi ngỡ ngàng đến mức như không dám tin vào tai mình nữa. Giá như tôi “bê nguyên xi” cuộc đối thoại này vào một cuốn sách nào đó thì chắc chắn các nhà phê bình văn học sẽ phê phán một cách không thương tiếc rằng: tác giả đã mắc một nhược điểm sơ đẳng là lắp ghép ngôn ngữ và tư duy của mình vào miệng một đứa trẻ. Nhưng tôi cũng xin được thưa rằng trong cuộc sống vẫn đã và đang tồn tại những thứ khác xa với nếp nghĩ quen thuộc từ xưa đến nay của chúng ta. Nhưng mà thôi khỏi cần tranh luận. Sự thật tôi  cũng không có ý định viết gì về chú bé ấy. Tôi “tâm giao” với chú bé là vì việc khác.

* * * 

Hẹn vậy nhưng ngay sau đó cơ quan lại có việc đột xuất, tôi phải vào gấp trong Nam. Vì thế, đến hơn hai tháng sau tôi mới gặp lại chú bé.
Buổi chiều trở lại nơi hẹn, nhìn chú bé nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế đá với gương mặt hốc hác, tiều tụy như người dưới âm phủ, tôi kinh hãi kêu lên:
– Sao cháu đến nỗi này? Xin lỗi cháu vì chú có việc phải đi xa. Mãi tối hôm qua chú mới về.
Chú bé quay lại, khẽ nhếch mép rồi lại ngước cái nhìn mệt mỏi ra phía bờ sông. Giọng chú thiểu não nhưng vẫn không bỏ được cái thói kênh kiệu:
– Không sao! Lỡ hẹn là căn bệnh khó chữa của người lớn các chú rồi.
Để chứng minh cho chuyến đi xa của mình là có thật, tôi lôi ra mấy thứ bánh trái đặc sản miền Nam.
– Quà của cháu. Mấy thứ này chú mua tận Bến Tre đấy.
Nhìn gói bánh trong tay tôi, mắt chú bé cháy sáng lên một vẻ thèm khát. Cổ họng chú giật giật. Biết là cơn đói đã hành hạ chú bé từ lâu, tôi vội nói:
– Ăn đi đã, chú mày! Muốn gì nói sau.
Chỉ một loáng, gói bánh đã gần hết. Suốt lúc ăn, chú bé không trò chuyện một lời. Tận lúc gói bánh không còn một vụn nhỏ, chú mới quay lại phía tôi, giọng tươi hẳn lên:
– Thú thật với chú, cháu đang sắp chết đói thì chú đến. Và cháu chợt nghĩ rằng ở trên đời còn có những người từ thiện thì không ai phải chết khổ, chết sở.
Tôi cười đùa:
– Câu nói này là một dẫn chứng rằng cháu đã có thể trở thành người lớn.
– Không! Cháu chỉ nói sự thật thôi.
– Này! Nhưng mà chú vẫn nghĩ là cháu làm ăn đủ sinh sống cơ mà?
– Đời khốn nạn thế đấy chú ạ! Có một lão người rất to béo. Tháng trước, lão cho lập một xưởng tái chế những đồ thải trong rác ngay ở trong thành phố này. Thế là chúng cháu thất nghiệp.
Tôi cau mày:
– Sao lại thế? Thì các cháu cứ nhặt đồ thải mà bán cho họ chứ sao.
– Chú ơi, bọn họ đã phân loại và thu hồi tất cả trước khi đổ ra bãi rác rồi. Tất cả bằng máy hết. Nghề của chúng cháu bị loại bỏ. Cơ chế thị trường mà chú.
Tôi lo lắng hỏi:
– Thế bây giờ cháu tính sao?
Chú bé cười héo hắt:
– Cũng không thể chết đói được. Rồi cũng phải tìm một việc để kiếm sống.
Tôi rút túi đưa cho chú bé tờ năm trăm nghìn.
– Cháu đang thất nghiệp. Trước lúc tìm được việc làm, cháu cầm tiêu tạm.
– Không! Cháu đâu dám cầm những đồng tiền không phải bằng mồ hôi của mình. Chú cứ cất đi, đừng lo gì cho cháu.
Tôi nghĩ, đối với thằng bé đầy chất “sĩ” này mà không có cách nói thì sẽ không bao giờ chịu lấy tiền.
Tôi liền đổi giọng:
– Cháu nhầm rồi. Đây là một nửa số nhuận bút bài phóng sự “Trẻ em trên bãi rác” của chú. Mà cháu có biết không, toàn bộ ý tứ của bài viết là do công của cháu cung cấp đấy. Chú đã viết về cái chuyện bạn cháu dám cho cháu “một nửa gia tài”. Khi bài báo ra đời, báo bán chạy như tôm tươi. Tất nhiên là chú giấu tên cháu. Số tiền này là thù lao của cháu.

 – Thật thế sao? Chú bé tưởng thật, ngây thơ kêu to với vẻ vui mừng – chú ơi, số tiền này cháu sẽ mua một đôi giày. Và mỗi đứa chúng cháu lại có một chiếc giầy mới. Là nói về thằng bạn cháu ấy, chú còn nhớ không?

– Sao không nhớ! “Mỗi đứa ấm một chân, còn hơn một đứa rét cả hai chân”.

Chú bé cười hì hì:       

– Chú khá đấy! Ồ! Mà chú lại cười cháu là ngốc chứ gì? Thì chúng cháu là trẻ con mà. Trẻ con thì mới thế.
Chú bé sung sướng cầm tờ năm trăm nghìn. Gương mặt chú rạng rỡ trở lại. Chừng như chú đã quên hẳn cái việc bị lão béo nào đó cho chú “nốc ao” trên thương trường.       

* * *      

Tối hôm đó, tôi đem toàn bộ mọi chuyện kể lại với vợ và đưa ra ý kiến mang thằng bé về nuôi. Vợ chồng tôi lấy nhau đã hai chục năm mà vẫn không có một mụn con. Tưởng đây là một cơ hội, nào ngờ, vợ tôi giãy lên đành đạch:
– Anh điên hay sao? Nhận con nuôi cũng tốt nhưng có phải cứ vơ bèo gạt tép được đâu. Nó là cái thằng cà lơ thất thểu ngoài phố, biết thế nào mà lường mọi chuyện. Việc tìm con nuôi là phải tính toán, cân nhắc thật kỹ.
Lại “tính toán, cân nhắc” – Người lớn mà.
Xưa nay vốn là người nể sợ vợ, tôi không dám nói thêm một câu. Với lại, chính tôi cũng phải thầm công nhận những suy nghĩ của vợ tôi là hợp lẽ. Một đứa con nuôi, đâu phải chỉ đơn thuần là chuyện kinh tế, mà còn liên quan đến bao nhiêu điều khác nữa. Vợ tôi vốn tâm thiện nhưng khẩu ác, chắc gì đã hòa hợp được với thằng bé, có khi lại còn đem lại những điều khó xử cho cả đôi bên.
Tôi định bụng, từ nay trở đi sẽ ngầm thực hiện một kế hoạch “tình cảm hóa” giữa vợ tôi và chú bé xem sao.
Nhưng nào ngờ, tôi vĩnh viễn không bao giờ thực hiện được việc đó nữa.    

Một buổi sáng, tôi ra sông lấy số liệu về lưu tốc dòng chảy thì thấy hàng trăm người tụ tập trên mặt cầu và hai bên bờ. Mọi người cho tôi biết lúc sẩm tối hôm qua có một bé gái mười tuổi trượt chân ngã từ đập tràn xuống sông và bị nước xiết cuốn đi. Nước to và nhiều đoạn xoáy, không ai dám nhảy xuống cứu cháu bé vì biết rằng có liều nhảy xuống cũng không thể cứu được người, có khi còn hại đến thân. Trong khi mọi người còn tính toán, cân nhắc (lại tính toán, cân nhắc) tìm cách cứu nạn hiệu quả nhất thì bất ngờ một chú bé nhảy “ùm” từ mặt cầu xuống, vật lộn với dòng lũ, cố sải bơi theo bàn tay chới với của cô bé. Nhưng rồi cả hai đã cùng bị dòng sông cuốn băng đi. Mãi gần sáng, thuyền cứu nạn mới vớt được xác của hai đứa trẻ lên. Mọi người dễ dàng nhận ra thằng con trai chính là chú bé đi giày một chân (từ lâu nay chú bé đã trở nên hình ảnh quen thuộc đối với nhiều người dân xung quanh).
Tôi len vào giữa đám đông. Mọi người vẫn chưa hết bình luận về cái chết của chú bé:
– Đúng là chỉ có trẻ con mới cứu người một cách liều lĩnh, thiếu suy nghĩ thế, chứ người lớn thì…
Như có một tảng đá đè nặng trĩu lồng ngực, tôi lui ra khỏi đám đông đang vung chân vung tay một cách hiếu kì.
Tôi gạt thầm nước mắt, lê từng bước về phía công viên và ngồi thụp xuống chiếc ghế đá sứt, kỷ vật duy nhất còn lại của tôi và chú bé. Thật buồn thay, mới hôm nào chú bé còn ngồi đây để suy nghĩ xem mình có nên trở thành người lớn hay không. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh và mang đầy tính bi kịch của con người. Nhưng tôi lại chợt nghĩ, hình như nó sẽ là thảm kịch hơn nhiều, khi người lớn chúng ta không bao giờ còn “trở thành” trẻ con được nữa../
 

Hồ Thủy Giang

Xem tiếp tác phẩm trang tiếp theo bên dưới