Qủa đồi xanh mãi…

214

VNTN – Tôi nhớ lại ngày nhỏ sống cùng nhiều văn nghệ sĩ ở Khu tự trị Việt Bắc, vào thập niên 70 của thế kỷ XX. Ngày ấy có biết bao kỷ niệm về những con người bình dị mà sau này tôi mới hiểu hết được tài năng và đóng góp của họ cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà.

Năm tôi sáu tuổi, cả gia đình từ Hà Nội sơ tán lên Thái Nguyên, sống trong khu tập thể nhà tranh vách đất liền kề trụ sở cơ quan của mẹ tôi là Sở Văn hóa – Thông tin Khu tự trị Việt Bắc. Bố tôi – họa sĩ Vi Kiến Minh (1926 -1981) lúc đó là giảng viên khoa Mỹ thuật mà ông sáng lập của Trường Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc. Thời đó, các tỉnh có Ty Văn hóa – Thông tin. Sở Văn hóa – Thông tin do Khu tự trị quản lý và là cấp trên theo ngành dọc của sáu Ty Văn hóa – Thông tin các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang.

Ngày ấy, mỗi dịp bác Nông Quốc Chấn – nhà thơ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá về Sở Văn hoá – Thông tin Khu tự trị làm việc là sự kiện lớn của cả Sở mà lũ trẻ con lau nhau trong khu tập thể đều háo hức muốn được ngắm nhìn chiếc ôtô bốn chỗ của bác đỗ trong sân Sở (chúng tôi gọi là xe “đít vịt”). Sở Văn hoá – Thông tin đóng ở một quả đồi gần chùa Phủ Liễn – Thị xã Thái Nguyên. Trẻ con chúng tôi gọi là “đồi ông Tấn”, vì Sở nguyên là biệt thự của Thượng tướng Chu Văn Tấn (1909-1984). Đó là một quả đồi cao, có đường ôtô lát đá từ đường liên xã lên tận đỉnh đồi, nơi có tòa biệt thự hai tầng rộng rãi. Toàn bộ khu biệt thự này là trụ sở của Sở Văn hóa – Thông tin.

Trụ sở Sở Văn hóa – Thông tin Khu tự trị Việt Bắc trước đây, nay là trạm thu phát sóng của Đài PTTH tỉnh

Phó giám đốc Sở là nhà thơ Bàn Tài Đoàn, người dân tộc Dao. Vì còn bé nên tôi chỉ biết rất sơ lược ông là tác giả bài thơ Muối cụ Hồ và tập thơ Có mắt thấy đường đi. Cái tôi nhớ kỹ hơn về ông lại là chuyện ngoài thơ ca. Ông bị rắn độc cắn nên phải cưa một chân đến đầu gối, hàng ngày phải lắp chân giả. Đi lại khó khăn nên phòng làm việc và phòng ở của ông ngay tại tầng hai biệt thự. Cứ chiều tối, hết giờ hành chính, ông thường ngồi ở ban – công hóng mát và tháo cái chân giả ra. Bọn trẻ là con của cán bộ trong Sở kéo nhau lên chơi với ông. Thấy chúng chạy từ dưới cầu thang lên, ông liền thò cái chân bị cụt qua lan can ban – công lắc lắc, nhìn đến khiếp! Nhiều đứa sợ bỏ chạy tán loạn, còn ông thì khoái chí cười vang cả tòa nhà.

Một nhân vật nữa để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức thơ trẻ của chúng tôi là họa sĩ Sĩ Tốt. Đầu húi cua, Sĩ Tốt to cao như một lão nông, dù rất sợ nhưng chúng tôi vẫn hay trêu đùa ông. Phòng ở và làm việc của ông nhìn ra sân chung của cơ quan, nơi lũ trẻ vẫn dùng làm sân đá bóng. Nhiều lần quả bóng bị “sút” thẳng vào nhà trong lúc ông đang say sưa vẽ, làm ông “cáu tiết”, giữ lại mấy tiếng sau mới trả, mặc cho lũ trẻ kỳ kèo, năn nỉ. Lúc rỗi việc thỉnh thoảng ông lại đem cây súng săn hai nòng và đạn ghém ra cửa ngồi lau chùi kỹ lưỡng, chúng tôi xúm lại xem rất say sưa, kính nể. Mặc dù có thú vui vào rừng săn bắn nhưng chưa lần nào tôi thấy ông mang chiến lợi phẩm về. Còn riêng khoản trồng cây lấy củ thì ông rất tài! Tất cả cây ông trồng đều có củ, quả nhiều và to hơn của người khác, điều này đến tận bây giờ tôi cũng không thể hiểu vì sao (?!)

Về tình yêu với hội họa thì Sĩ Tốt là số một. Ông miệt mài, không ngày nào không vẽ. Đi làm thầy dạy cho các lớp vẽ quần chúng, những lúc không tìm được mẫu khỏa thân để vẽ nghiên cứu giải phẫu, thầy Sĩ Tốt khỏa thân làm mẫu luôn! Rồi vừa đứng mẫu, ông vừa giảng giải phân tích cấu trúc xương, cơ cho học trò. Ông tạo được phong trào “nông dân vẽ” khi đưa cả làng Cổ Đô (Ba Vì) quê hương trở thành “làng họa sĩ”, thành lập Bảo tàng Sĩ Tốt. Hai người con trai ông đều theo nghiệp cha. Họa sĩ Sĩ Tốt (1919- 2002, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2007) có nhiều tác phẩm sơn dầu được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Đứa nào cũng được học; Tiếng đàn bầu; Ơ bố…

Trong Sở ngày ấy có Phòng Điện ảnh và Nhiếp ảnh. Mẹ Chu Thị Liên của tôi là cán bộ in – phóng ảnh của Sở. Làm buồng tối phóng ảnh thủ công rất độc hại, sức khoẻ không tốt vì bệnh hen nhưng mẹ tôi luôn mẫn cán. Đoàn làm phim của Sở gồm các đạo diễn Chu Thi, Lô Cường; quay phim có Lê Phạnh, Hoàng Bình Hòa, Trần Thông – những người đã làm nên Việt Bắc với Bác Hồ, bộ phim tài liệu đầu tiên và duy nhất của điện ảnh Khu tự trị Việt Bắc. Dù không nhớ đã xem mấy lần, nhưng đó là bộ phim hay, rất xúc động và chân thực.

 Sau này, các nhà làm phim đều chuyển sang làm phóng viên nhiếp ảnh của Khu tự trị Việt Bắc, tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật cách mạng. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Thi (1937-2010) là cậu ruột tôi, người đã chụp được những bức ảnh quý về Bác Hồ khi Bác làm việc ở Việt Bắc. Nhà quay phim Hoàng Bình Hòa về công tác ở Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương, năm 1979 đi quay phim chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc bị thương ở đầu khi đang mải bấm máy, về sau ông mất vì xuất huyết não.

 

Một nhân vật giản dị là nhà văn Nông Minh Châu, tác giả cuốn truyện ngắn Ché Mèn được đi học khá nổi tiếng. Ông Châu nhỏ nhẹ, ít nói, sống và viết một mình trong căn phòng đầu hồi dãy nhà. Ông lặng lẽ viết văn, viết nghiên cứu sưu tầm và ngày nào cũng phải tiêm thuốc vì bị bệnh tim. Ở Sở lúc đó, chúng tôi còn hay được xem cô Mong và cô Tiên, hai họa sĩ thường cặm cụi ngồi chép các hoa văn, hoạ tiết trang trí rất đẹp của đồng bào các dân tộc Việt Bắc, lưu giữ lại những tư liệu quý cho văn hóa dân tộc. Bây giờ không biết họ ở đâu?

Cách Sở Văn hóa – Thông tin vài cánh đồng là một quả đồi thấp hơn, nơi đặt trụ sở của Đoàn Văn công Việt Bắc. Đoàn có nhiều nghệ sĩ, tôi chỉ nhớ được một số người: hoạ sĩ Đỗ Tố, biên đạo múa Vương Thào, biên đạo múa NSND Lê Khình…

***

Với tôi, trong Khu tập thể Sở Văn hóa – Thông tin ngày ấy, gia đình đạo diễn kịch Trần Tuấn Long (1936) – cô Đỗ Kim Thanh (1940) có nhiều kỷ niệm đặc biệt. Chú Tuấn Long công tác ở Đoàn Văn công Quân khu Việt Bắc, vợ là diễn viên múa cùng đoàn. Qua ông, tôi được biết mặt biết tên nhạc sĩ Nguyễn Lầy, ca sĩ Lê Hằng. Chú Tuấn Long đã viết lời cho bài hát Con bò và chiếc xe quệt của nhạc sĩ Nguyễn Lầy.

Nhạc sĩ Tuấn Long có hai người con trai, sau này đều là những nghệ sĩ tên tuổi của thế hệ chúng tôi: họa sĩ Tuấn Vinh và nhạc sĩ Thanh Phương. Anh Tuấn Vinh (1959-2004) tài năng và đào hoa. Bố tôi đã tuyển Tuấn Vinh vào trường Nghệ thuật Việt Bắc và sau này anh là giảng viên tại đây. Học mỹ thuật, nhưng Vinh chơi ghita, thổi sáo đều xuất sắc, anh làm được sáo Mèo và tự chế tạo đàn ghita điện. Thời học Đại học Mỹ thuật Hà Nội, anh phá không biết bao nhiêu tủ gỗ của trường để làm đàn ghita. Tuấn Vinh thổi sáo Mèo hay không kém NSND Lương Kim Vĩnh.

Ngoài nghệ thuật Tuấn Vinh thích đi săn và có thể theo đuổi mấy cánh rừng để săn bằng được một con thú. Tôi thuộc lứa đàn em, khi đó hay đi soi đèn pin trong đêm cho anh bắn chim, xong mò mẫm vào các bụi cây tìm nhặt về cả bọn đánh chén. Anh thích nuôi sáo và hay “xạo”, trêu chọc mọi người bằng cách giả sáo nói. Vinh còn có thú “tầm” xe Vespa cổ, lang thang chở bạn bè đi chơi, đi săn, nhiều lúc xe hỏng giữa đường vừa đi vừa sửa. Anh từng chở hoạ sĩ Thế Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm rong ruổi khắp vùng Bình Gia (Lạng Sơn) ngắm phong cảnh tuyệt đẹp với nhà sàn ẩn hiện trong hoa mơ, hoa mận, hoa đào; có ngày làm ông Minh “toát mồ hôi” vì mải theo con mồi cả buổi trong rừng (!). Tuấn Vinh dạy Hội họa ở Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc, là người lãng tử, tài hoa, vẽ ít mà đẹp. Anh đã sáng tạo ra chất liệu nho mài trên giấy đúp – lếch tạo hiệu quả khá lạ, sau này được nhiều sinh viên tiếp tục theo đuổi. Dường như những gì hấp dẫn của một người đàn ông Tuấn Vinh đều có, tôi không nhớ hết được những phụ nữ đã yêu anh. Có lẽ cũng vì quá tài hoa nên Vinh ra đi sớm. Anh mất trong một tai nạn giao thông ở lứa tuổi ngoài 40 đầy sung sức, hứa hẹn. Tuấn Vinh yểu mệnh, song vẻ đẹp trai và tài hoa của anh vẫn trong ký ức nhiều người. Cái chết của anh khiến bao người buồn tiếc đến bây giờ. Sau khi con trưởng mất, ông bà Tuấn Long đã bán căn hộ tầng trệt chung cư 5 tầng (khu chung cư đầu tiên và lâu năm nhất Thái Nguyên) chuyển về Mỹ Đình, Hà Nội năm 2009 và 2012 thì về phố Hào Nam ở gần con gái.

Khác hẳn anh trai, Thanh Phương, lại trầm tĩnh, kín đáo. Phương là cây ghita đẳng cấp và là nhạc sĩ phối khí tài năng, từng tham gia ban nhạc Phương Đông, đệm ghita cho các diva Thanh Lam, Mỹ Linh. Chị gái Phương – Trần Thị Bích Huyền, học cùng chị Vi Bạch Yến của tôi ở Thái Nguyên. Năm 1977, chị Huyền về học Nhạc viện Hà Nội, sau đó không theo nghề mà chuyển sang kinh doanh thời trang nhưng không quên tập đàn. Cuối năm 2015, chị lập nhóm Cello fans gồm 10 nhạc công. Sự trở lại với âm nhạc của Bích Huyền là điều xác đáng khi sống trong đại gia đình âm nhạc, dù hơi muộn, khi đã có hai cháu ngoại. Chị lấy Trần Vũ Hoàng, con trai của nhạc sĩ Trần Hiếu (trước là Trưởng khoa Thiết kế Thời trang, nay là Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Hà Nội). Mối quan hệ gia đình làm cho Trần Thu Hà thân thiết với Thanh Phương. Hà đã mời Phương sang Mỹ làm CD Hà Trần 9803, đạo diễn âm nhạc Đối thoại 06, rồi sau đó là Trần Tiến 08, đạo diễn các liveshow của Thanh Lam, Tùng Dương, nhóm Ngũ Cung, Trần gia nhã nhạc, tham gia phối khí các chương trình Con đường âm nhạc, Không gian âm nhạc, Giai điệu tự hào, Ru tình. Thanh Phương có phòng thu riêng. Cùng Quốc Trung làm Giám đốc âm nhạc, phối khí cho chương trình Giai điệu tự hào… Trong giới âm nhạc hiện nay, Phương có một vị trí không thể phủ nhận…

Năm 1980, tôi rời “đồi ông Tấn” về Hà Nội học đại học, lập nghiệp. Khi tôi mới là sinh viên năm thứ nhất thì bố tôi qua đời. Theo năm tháng, những nghệ sĩ ngày đó cũng mỗi người một phương, tiếp tục hành trình, trở thành những tên tuổi của nền văn nghệ nước nhà, nhiều người đã khuất. Vì cuộc sống và công việc, rất ít khi tôi gặp lại họ. Trở lại Thái Nguyên bây giờ không thể nào gặp đủ những người xưa, nhưng mảnh đất Thái Nguyên, thành phố nên thơ bên sông Cầu ấy là phần ký ức quan trọng của gia đình tôi. Mùng 2 Tết Bính Thân, tôi thuê xe ôtô cùng anh trai Vi Kiến Cương (định cư ở TP. Hồ Chí Minh từ 1991) trở lại Thái Nguyên. Không phép lạ nào có thể giúp chúng tôi nhìn thấy lại cảnh xưa, gặp được đủ người thân, người quen cũ. Mẹ tôi mất sau cậu Thi nửa năm. Gia đình cậu vẫn sống ở Thái Nguyên, nơi cha mẹ, các anh tôi đã cống hiến tuổi trẻ và ông bà ngoại tôi nằm lại. Có lần về thăm làng Cổ Đô, tôi được gặp hoạ sĩ Sĩ Tốt đã ở tuổi ngoài 70, không còn khỏe. Những kỷ niệm xưa cùng chúng tôi sống lại bồi hồi…

Nhớ những năm ở Việt Bắc, nhớ những văn nghệ sĩ một thời quây quần trên quả đồi nơi mảnh đất bình dị, trong một thời đoạn đáng nhớ của cách mạng và dân tộc. Đồi ông Tấn và những quả đồi gắn bó với chúng tôi và nhiều người đã không còn, khiến Thái Nguyên mất đi vẻ đẹp đặc trưng thành phố núi đồi. Song những quả đồi vẫn mọc xanh và ấm áp, đất đỏ trong tâm trí anh em tôi khi mùa Xuân, cũng là mùa mới khởi đầu.

 

Vi Kiến Thành