Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông liên quan đến Nguyễn Trãi

378

VNTN – Hai văn bản này rất quan trọng, đó là “Chiếu giải oan” cho Nguyễn Trãi như người ta thường nói và câu thơ ca tụng ông “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” của vua Lê Thánh Tông. Nó có liên quan rất sâu sắc đến sự đánh giá của đời sau đối với vị Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Một số bài đã đăng trên các báo và tạp chí nói đến hai văn bản này, mà tôi đã đọc, đều thấy có chỗ không được tường tận, thậm chí còn nhầm lẫn. Lí do là một số tác giả của những bài viết ấy ít có điều kiện tiếp xúc với văn bản mà ta có thể coi là “văn bản gốc”. Tôi nghĩ là nên nói thêm cho rõ, để các tác giả và bạn đọc tham khảo thêm.

1. Thánh Tông là miếu hiệu của vị hoàng đế thứ tư của nhà Lê, chứ không phải là “niên hiệu” của vua, như hầu hết các bài đã đăng báo in sách hiện nay. Miếu hiệu là tên hiệu, quần thần căn cứ vào công đức của nhà vua mà dâng lên, sau khi nhà vua đã chết, thường là sau 1 năm. Trong trường hợp này là  11 tháng, vì các quần thần dễ thống nhất. (Vua mất tháng 1, miếu hiệu dâng tháng 12 cùng năm). Khi sống và làm việc, vua có 2 niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Đức (1470 – 1497). Nghĩa là cho đến lúc chết, vua Quang Thuận – Hồng Đức nhà Lê, không hề biết mình sẽ có tên là Lê Thánh Tông, như 11 tháng sau khi chết, các quần thần mới đặt tên cho ông, để các thế hệ sau gọi Người cho đến tận ngày hôm nay.
2. Năm Quang Thuận thứ 5 (1464), tức là sau 22 năm Nguyễn Trãi đã chết vì án tru di (1442 – 1464), vua Quang Thuận mới ban một đạo Chế, mà một số tác giả về sau đều gọi là Chiếu hay Sắc, gọi thế, hay viết thế, đều là sai, vì Chiếu, Chế, Sắc là 3 loại văn bản hành chính của nhà nước phong kiến, với chức năng, nội dung và tầm quan trọng khác nhau. Trong trường hợp này là Chế. Toàn văn văn bản Chế do văn thần soạn, vua cho công bố, bản dịch như sau:

BÀI CHẾ PHONG TẶNG TƯỚC TẾ VĂN HẦU CHO LÊ TRÃI

“Thuận mệnh trời, theo vận nước, Hoàng thượng nói rằng: Ta vì muốn bắt chước phép nhà Ân mà trị nước, để mở rộng cơ nghiệp của tổ tông, muốn dựa theo lệ nhà Chu mà ghi công để thực hiện trị an cho đất nước, cho nên cần làm việc ban cấp sắc phong, sửa sang phần mộ.
Xét vị công thần khai quốc trước kia, được phong tước Trụ quốc Tân trù bá, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu là Lê Trãi, đem đạo học chân chính mà giúp việc nước nhà, vạch kế hoạch rộng lớn mà sửa nền chính trị. Trong buổi Tổ phụ ta khởi nghĩa ở Lam Sơn, để gây dựng lại cơ đồ nước Việt, ông đã vào Lỗi Giang theo quân lập được nhiều thành tích tốt, trong việc bình Ngô, danh vọng của ông vang lừng trong bốn bể, mưu lược của ông rõ rệt dưới hai triều. Dẫu rằng thời mệnh không đi đôi với nhau, khó biết được lẽ huyền bí, nhưng công lao của ông được ghi chép lâu ngày, hiện còn thấy trong sổ sách. Trước kia ông đã được ban ân rất hậu, ngày nay càng nên tặng thưởng thêm. Vì lẽ đó, nay đổi tước bá, thăng tước hầu, vừa để biểu dương công lao cống hiến cho nước, vừa để nêu rõ đạo học bổ ích cho đời.
Than ôi! Rồng hổ gió mây hội trước, tưởng lại tiền nhân. Văn chương sự nghiệp dấu xưa truyền cho hậu thế.

Vậy gia tặng Trụ quốc Tế văn hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu.”

(Phần Văn tuyển, trong “Hoàng Việt thi văn tuyển” của Tồn Am Bùi Huy Bích, do Lê Thước, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu, Vũ Đình Liên dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1957).

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) được ban quốc tính (họ vua) là Lê Trãi. Văn bản gốc theo đúng nghĩa của nó, hiện không còn. Các nhà nghiên cứu về sau thường lấy văn bản này, với độ tin cậy rất cao của nó, được coi như bản gốc. Tôi không rõ còn có ai có được văn bản tư liệu nào sớm hơn, tin cậy hơn không? Soạn giả là nhà văn hóa lớn đời Lê là Bùi Huy Bích (1744 – 1818) từng làm Nhập thị Bồi tụng (người đứng thứ 2, sau Bồi tụng, chức Bồi tụng tương đương như chức Phó Thủ tướng của ta hiện nay) thời vua Lê chúa Trịnh.

Như vậy, không phải là vua “xuống chiếu giải oan” như một số bài báo đã viết, dù viết điều này, tôi đoán là các tác giả đã căn cứ vào chú thích của sử quan nhà Nguyễn khi dịch và viết thêm chú thích cho bộ “Đại Việt Sử kí toàn thư” của thời Lê. Cũng có không ít chú thích, các sử quan triều Nguyễn viết sai, gây rất nhiều phiền toái cho hậu thế (trong khi chính “Đại Việt sử kí toàn thư” cũng sai những điều rất hệ trọng mà tôi đã viết trong một bài khác, nên không nói ở đây). Chính lời chú thích “đại khái” này của sử quan triều Nguyễn, làm cho nhiều người thường nhầm lẫn. Tôi cũng nghe nhiều người nói vua Lê Thánh Tông “xuống chiếu giải oan” cho Nguyễn Trãi, nhưng đọc văn bản thì lại thấy rõ là không phải Chiếu và cũng không có câu nào nói Nguyễn Trãi bị oan, cần được “giải oan”. Nhưng “đại khái” chúng ta có cảm nghĩ đó. Trong Chế mà chúng ta đọc toàn văn ở trên, không hề có câu nào nói về nỗi oan, cũng không hề có câu thơ “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” như một số bài báo đã viết. Vậy câu thơ ấy ở đâu?

3. Câu thơ: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” là câu thứ ba trong bài thơ luật tám câu. Bài thơ nguyên văn như sau:

Dư tĩnh tọa pháp cung hà tư kim tích quân minh thần lương dữ đương kim cơ nghiệp chi thịnh ngẫu thành nhất luật 

 (Xuất “Quỳnh uyển cửu ca” tập, Hồng Đức nhị thập ngũ niên)
Cao đế anh hùng cái thế danh
Văn hoàng dũng trí phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
Võ Mục hưng trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên qúy hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự

Bát bách Cơ Chu lạc trị bình

Dịch nghĩa:

Ta ngồi trong chính điện hồi tưởng xưa nay vua sáng tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà ngày nay, ngẫu thành bài thơ 
(Trong tập “Quỳnh uyển cửu ca” năm Hồng Đức thứ 25)
Cao đế nổi tiếng anh hùng, trên đời xưa nay không ai sánh kịp
Văn hoàng trí dũng, kế thừa nghiệp lớn
Ức Trai trong lòng rạng vẻ Khuê tảo
Võ Mục trong bụng chứa chất giáp binh
Mười anh em họ Trịnh vẻ vang phú quí
Hai cha con họ Thân cùng hưởng ân vinh
Cháu hiếu tôn Hồng Đức kế thừa nghiệp lớn 
Vui hưởng cuộc trị bình tám trăm năm như đời Cơ Chu”

(Phần Thơ tuyển, trong bộ sách trên)

Như vậy bài thơ ca ngợi vua sáng, tôi hiền. Chính vua ghi chú thích (đại lược) rằng: Hai vua là Cao Đế (Thái tổ – Lê Lợi) sự nghiệp cứu nước anh hùng hơn người; và Văn Hoàng (Thái tông – Lê Nguyên Long) nối được chí lớn của thân phụ. Hai bề tôi văn võ là Ức Trai Khuê tảo (Nguyễn Trãi – văn thần) là biểu tượng rạng ngời của văn chương; và Võ Mục (Lê Khôi – tướng lĩnh) bụng chứa đầy binh pháp. Sau đó là các bề tôi khác, công lao thấp hơn được biểu dương là 10 anh em (cha con) họ Trịnh, đứng đầu là Trịnh Khả; và hai cha con Thân Nhân Trung. Hai câu sau nhà vua tự viết về mình. Bài thơ được viết năm “Hồng Đức thứ 25” (1494), tác giả đã ghi rõ như vậy, không phải viết năm 1464 và không có trong Chế năm 1464, như một số bài báo đã viết sai.

Vì Nguyễn Trãi – Thi hào, Danh nhân văn hóa thế giới, có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của các thế hệ, nên các tư liệu về ông, rất cần sự chính xác, càng chính xác được bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu.

Trần Nhuận Minh