Những vế đối trí tuệ và khí phách của người Đại Việt

262

VNTN – Những cuộc đấu trí diễn ra trong việc đối đáp giữa người Việt ta và vua quan Trung Quốc đã được lưu truyền nhiều trong sử sách. Nhiều vế đối trong những lần đấu trí như thế đã thể hiện tài trí và khí phách hào hùng của người Đại Việt.

 * * *

Thượng thư Hoàng Phúc được vua Minh cử sang Đại Việt để cai trị và truyền bá văn hóa Trung Hoa. Y mở trường để dạy cho các nho sinh Đại Việt. Nhân một hôm mưa bão nổi lên, nhà sập đổ, tường xiêu vẹo điêu tàn, trước đám học trò, Hoàng Phúc đọc: Tai chiêu phong vũ gia gia đồi hoại cựu viên tường (Hôm qua mưa gió nhà nhà sập đổ vách tường xiêu), và bắt học trò đối lại. Trong lúc mọi người đang suy ngẫm thì một nho sinh xin đọc: Kim nhật càn khôn xứ xứ phát sinh tân thảo mộc (Nay đất trời quang chốn chốn mọc lên cây cỏ mới). Câu đối thật tài tình bởi quang cảnh đổ nát ở đây do mưa bão gây nên cũng như kẻ thù đã làm cho nước Nam điêu đứng. Cây cỏ mới mọc lên cũng như nhân tài Đại Việt sẽ sớm xuất hiện để khôi phục lại đất nước. Tác giả câu đối này là Lê Thúc Hiến, con trai của Lê Cảnh Tuân, từng viết bài Vạn ngôn thư nổi tiếng chấn động đất trời, dậy lòng trung nghĩa.

Tại làng Phan Xá, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, có chàng hàn sĩ Phan Nhân bị quân Minh bắt về hầu hạ tên học quan Trung Quốc. Một hôm y ra một vế đối để bắt nho sinh Đại Việt đối lại: Hồng lựu tự hỏa phi cầm lai vãng bất thiêu thân (Hoa lựu đỏ như lửa, chim bay qua lại thân chẳng bị thiêu). Phan Nhân ứng khẩu đọc: Lục tảo như ty du lý phù trầm nan tước vĩ  (Đám rêu xanh như tơ, cá lội nổi chìm đuôi chẳng bị vướng). Vế ra tên quan nhà Minh muốn nói: đạo quân của chúng tuy bề ngoài có vẽ hung dữ nhưng thực chất là đạo quân nhân nghĩa chẳng làm hại ai. Còn vế đối của Phan Nhân khẳng định rằng: dù bị bủa vây nhưng không ngăn nổi ý chí tung hoành của người Đại Việt.
* * *
Hai câu chuyện trên là những cuộc đọ trí tài hoa giữa ta và Trung Quốc diễn ra trên lãnh thổ Đại Việt. Còn tại cung đình phương Bắc, nhiều lần đấu trí giữa sứ thần Đại Việt và Hoàng đế Trung Hoa cũng đã diễn ra.

Năm 1493, vừa đỗ Hoàng Giáp, Ngô Kính Thần được Lê Thánh Tông cử đi sứ Trung Quốc. Tại cung đình, vua Minh ra câu đối và bắt sứ Đại Việt đối lại: Nhật hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ (Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng). Ý bóng gió của câu này là kẻ mạnh sẽ thắng kẻ yếu, tức là Đại Việt phải thuần phục Bắc triều. Ngô Kính Thần ung dung đối lại: Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô (Trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời). Vế đối lại hình tượng sắc sảo, khí phách quật cường. Nếu người Minh dùng “lửa mặt trời” (nhật hỏa) để đốt cháy “trăng Đại Việt” (thiêu tàn ngọc thỏ) thì dân Đại Việt lại dùng cái “cung mặt trăng” (nguyệt cung) để bắn rụng “mặt trời phương Bắc” (xạ lạc kim ô). Nghe xong vế đối, vua Minh nổi giận lôi đình, ra lệnh bắt Ngô Kính Thần tống giam vào ngục tối. Việc làm cực kỳ vô lý của vua Minh càng làm cho câu chuyện bi hùng và danh tính của người đối lại tồn tại và vang vọng mãi.

Năm 1637, vua Lê Thần Tông cử Thám hoa Giang Văn Minh làm chánh sứ sang Trung Quốc để bàn chuyện bang giao. Khi tiếp sứ, Minh Sùng Trinh ra câu đối để bắt sứ ta đối lại: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng trụ đến nay rêu vẫn còn xanh). Vua Minh nhắc đến cột đồng của Mã Viện dựng lên sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, là một sự lăng nhục đối với cả dân tộc. Lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc trỗi dậy, bất chấp uy lực của Hoàng đế Bắc triều, bất chấp có thể gặp tai họa như Ngô Kính Thần, Giang Văn Minh dõng dạc ứng khẩu đáp lại: Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn đỏ). Ngôn từ quá chỉnh, còn nội dung quá sâu sắc, nhắc nhớ ba lần người Việt chiến thắng ở sông Bạch Đằng, khiến cho kẻ thù phương Bắc phải kinh hồn bạt vía. Vế đối đã trở thành cái tát, tát thẳng vào mặt vua Minh ngay tại cung đình của họ giữa thanh thiên bạch nhật, trước hàng trăm văn võ bá quan. Minh Sùng Trinh hổ thẹn và căm giận, tìm mọi cách để hãm hại Giang Văn Minh, cho nên ngày 12 – 6 Mậu Dần, tức 12 – 7 – 1638, đã ra lệnh giết ông bằng cách mổ bụng để xem lá gan của sứ thần Đại Việt (*).
 (*) Theo giáo sư Vũ Ngọc Khánh: Vua Minh đổ thủy ngân và nhân sâm vào miệng Giang Văn Minh, khâu lại, rồi đuổi về. Ông mất trên đường về nước.

Hoàng Hiếu Nghĩa (biên soạn)