Tình yêu là sức mạnh

294

VNTN – Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng biển Quảng Yên (Quảng Ninh). Với tôi, biển như một phần máu thịt, khi vui, lúc buồn đều có thể đến, nhìn màu nước xanh dịu mát, nghe sóng vỗ như bản nhạc du dương, nỗi buồn như được sớt chia, còn niềm vui cũng được cảm nhận trọn vẹn hơn. Dữ dội và bình yên, đó chính là biển cả!

Nước lớn Trung Quốc với một chuỗi những hành động gây hấn, những phát ngôn sai lệch trên biển Đông và hai “đứa con” Hoàng Sa – Trường Sa của chúng ta; gần đây, họ tiếp tục nạo vét xung quanh các bãi đá, triển khai xây dựng đường băng thứ 3 trên quần đảo Trường Sa… Những việc làm ấy đúng hay sai, chắc không phải bàn cãi nữa! Trong những phút giây triệu triệu người sôi sục vì chiếc giàn khoan HD-981 đặt sai chỗ, và trước các hành động leo thang mới của Trung Quốc gần đây, điều làm tôi nghĩ nhiều nhất là những người dân quê tôi. Cuộc sống vô vàn khó khăn, tài nguyên biển thì đang dần cạn kiệt, việc đánh bắt xa bờ đã ẩn chứa bao hiểm họa thiên nhiên, nay lại đối mặt với hiểm họa con người với con người…

Ngày bé, tôi đã tận mắt chứng kiến từng đoàn thuyền đánh cá xa khơi, người ngư dân ngụp lặn với từng con sóng dữ. Tôi đã tự hỏi, con thuyền ấy có chuyên chở ước mơ, hay đơn giản vì hai chữ “mưu sinh” của người dân vùng biển? Tôi thấy họ trong những lần trở về, khi là khoang thuyền đầy cá, nhưng có khi khoang thuyền trống rỗng và những gương mặt sạm đen đầy ưu tư, lo lắng. Cũng không ít lần, tôi thấy đoàn thuyền trở về trong trạng thái “không lành lặn”, thuyền hỏng, người mất tích, người bị thương…, nỗi buồn khắc lên gương mặt của những bà mẹ, những đứa trẻ… Ở gần nhà tôi có một gia đình, nhà có hai bố con, họ thường là người dậy sớm nhất làng chài. Mùa đông hay mùa hè, trên con thuyền nhỏ ấy tiếng gõ đuổi cá đều đặn từ 3 giờ sáng cho đến khi ngọn hải đăng cuối cùng tắt đèn… Được ví là con ong chăm chỉ của làng chài nhưng tài sản của họ chỉ vẻn vẹn vài treo lưới ghẹ, một chiếc đèn măng xông và hai cái vợt sứa. Nhìn vào hình ảnh ấy, chẳng ai nghĩ trước đây gia đình họ làm ăn phát đạt nhất vùng, có “của ăn của để”, có tàu đánh cá rất lớn. Chỉ một lần đánh bắt xa ra vùng Vịnh, họ gặp cướp biển, có người may mắn được thả về, có người vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu. Nhiều người khuyên họ lên đất liền sinh sống, nhưng hai người họ dù ám ảnh vẫn không từ bỏ quyết tâm bám biển. Người làng bảo họ cố chấp, nghe thế, họ chỉ cười bảo: “Biển là cuộc đời của tôi!”.

Chỉ một câu thật ngắn gọn, nhưng tôi hiểu rằng người ngư dân ấy kiên trì bám biển, đơn giản vì đó là tình yêu. Bởi bản thân tôi chẳng gắn bó gì với nghề chài lưới mà còn thấy yêu biển thiết tha, thì với những người đã sống cả đời với biển, họ yêu biển như sinh mệnh mình vậy. Nhiều lúc nghĩ về họ, đầu tôi lóe lên ý nghĩ về một lá đơn tình nguyện tham gia lập nghiệp ở Hoàng Sa – Trường Sa; nghĩ về việc mình sẽ nói tới mọi người về biển đảo, về tình yêu giản dị của người làng chài… Tôi biết tình yêu cần được thực hiện bằng những hành động cụ thể chứ không là những câu chữ được gọt giũa. Thế nên cách tôi chọn lựa để hành động là làm tốt nhất có thể nhiệm vụ của một sinh viên, cố gắng học tập, cống hiến sức trẻ cho những việc làm hướng tới cộng đồng…

Tôi tin, với những chính sách hỗ trợ thiết bị, nhiên liệu hay bảo hiểm cho tàu bè của ngư dân đang là nguồn động lực để những người con của biển vươn sống từng ngày trên chính mảnh đất của quê hương mình. Vì tình yêu với biển cả, họ sẽ luôn sẵn sàng đương đầu với những hiểm họa, cùng nhau đi tới mục đích cuối cùng, là giữ vững vùng biển, vùng trời, từng tấc đất trên quê hương Việt Nam.

 

Lê Văn Hùng (Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên)