Tình yêu Thúy Kiều – Kim Trọng: Từ góc nhìn nữ quyền

2870

VNTN – 1. Tình yêu là đề tài muôn thuở của sáng tạo văn chương và tình yêu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du không nằm ngoài qui luật ấy. Nhưng để hiểu thế nào là giá trị đích thực của tình yêu trong Truyện Kiều lại là một vấn đề không đơn giản. Từ trước đến nay, xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu, phê bình đã luận giải vấn đề tình yêu trong Truyện Kiều từ hệ hình tư duy của triết học phương Đông như: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo… hay từ triết học phương Tây như phân tâm học, hiện sinh, xã hội học… Tuy được khám phá từ nhiều góc nhìn như thế nhưng câu chuyện tình yêu Kim Trọng – Thúy Kiều còn rất nhiều ẩn ngữ, vẫn “vẫy gọi” ý thức khám phá tác phẩm của muôn thế hệ bạn đọc.

2. Xưa nay khi bàn về Truyện Kiều, những người đến từ những chân trời tư tưởng rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau như Hoàng Ngọc Phách, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Huỳnh Thúc Kháng, Trương Tửu, Thạch Trung Giả, Phạm Thế Ngũ,… đều tựu trung cho rằng: thuyết định mệnh là triết lý nền tảng của Truyện Kiều. Điều này quả là đúng, bởi xuyên suốt Truyện Kiều là câu chuyện về một người phụ nữ bé nhỏ, mong manh, suốt quãng đời thanh xuân tươi đẹp nhất, phải liên tiếp đối đầu với thử thách nghiệt ngã của số phận. Nhưng có lẽ nào khi đọc Truyện Kiều ta chỉ hiểu rằng định mệnh phũ phàng, nặng nề, đau khổ như đóng đinh vào đời Kiều, khiến Kiều không có sự lựa chọn nào, phải chấp nhận cúi đầu cam chịu?

Không hẳn thế, ngày nay đọc lại Truyện Kiều, ta thấy bằng sự đồng cảm sâu sắc trước những nỗi đớn đau từ “những điều trông thấy”, Nguyễn Du đã dành nhiều trân trọng yêu thương cho nhân vật Thúy Kiều. Ông đã luôn tạo cơ hội, mở đường cho nàng được tự do, được thoát khỏi sự bủa vây trùng điệp của biết bao định chế vô lối của xã hội phong kiến. Có lẽ Nguyễn Du là người đầu tiên trong văn học Việt Nam đã dám đứng trên “chuẩn mực” Nho giáo để tôn vinh, ca ngợi một người con gái đẹp, tài năng nhưng “hư hỏng” dưới cái nhìn nghiệt ngã của khuôn mẫu đạo đức phong kiến, bởi lẽ cô đã dám “vi phạm” kỷ cương, phép tắc nghiêm ngặt của cộng đồng, không tuân theo bất cứ sự sắp đặt nào của lễ giáo phong kiến theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” để lựa chọn tình yêu cho mình. Trong xã hội phong kiến, khi tư tưởng nam trị thống soái một cách mạnh mẽ thì việc Nguyễn Du để nàng Kiều chủ động “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình” đi tìm Kim Trọng rõ ràng là một hành vi mang tính “nổi loạn” có chủ đích. Trong cái nhìn tiến bộ về phụ nữ của thời hiện đại sự “nổi loạn” này của nàng Kiều cho thấy rõ đây là một cô gái rất bản lĩnh, dám vượt mọi rào cản để sống thật với lòng mình, để mình được là chính mình; Và từ đó, có thể khẳng định Kiều đồng thời cũng là một phụ nữ có ý thức rất rõ giá trị của bản thân mình – đó là giá trị về nhân vị (giá trị về vị trí và phẩm giá con người trong cộng đồng nhân loại và vũ trụ) mà không phải người phụ nữ nào, đặc biệt là những phụ nữ sống trong sự hà khắc của xã hội phong kiến có được.

Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao nàng Kiều của Nguyễn Du lại dám xé rào cấm kỵ để tự do lựa chọn tình yêu? Lý giải vấn đề này, thiết nghĩ phải bắt đầu từ cội gốc vấn đề đó là nền tảng làm nên kinh nghiệm văn hóa của mỗi cá nhân – cá nhân đó phải là người có nội lực thế nào để có thể đủ sức mạnh thực hiện hành vi khẳng định nhân vị, bảo vệ nhân quyền của mình trong vòng cương tỏa khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến?! Nguyễn Du đã rất có lý khi ông để cho Kiều tự quyết định việc hệ trọng nhất trong đời của một người đàn bà: được quyền lựa chọn người đàn ông mà mình thật lòng rung động yêu thương. Có lẽ, có hai yếu tố quan trọng làm nên tố chất, bản lĩnh tự quyết của Thúy Kiều: thứ nhất, nàng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có gia phong, được giáo dục khá toàn diện nên sớm ý thức được nhân vị của mình; thứ hai, Kiều là một người có đời sống nội tâm vô cùng phong phú, nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc.

Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ đầu thiên truyện, Nguyễn Du đã chú trọng đến “lý lịch” của nàng Kiều: nàng sinh ra trong một gia đình gia tư “bậc trung”, tức là không giàu có nhưng đủ điều kiện để sống phong lưu, nề nếp. Trong khi nhiều cô gái đương thời chỉ biết phục tùng, cúi đầu “cử án tề mi” cho chồng, họ không có quyền được học hành… thì nàng Kiều may mắn sinh ra trong gia đình có cơ hội tiếp thu văn hóa để phát huy tài năng và trí tuệ. Đó còn là gia đình có truyền thống học hành “nối dòng Nho gia”. Kiều không những là cô gái có nhan sắc “nghiêng nước nghiêng thành” mà còn là người “sắc sảo, mặn mà”, đặc biệt, nàng có tư chất “thông minh vốn sẵn tính trời”, giỏi cả cầm, kỳ, thi, họa… Sự giáo dục chuẩn mực từ gia đình cùng với sự cộng hưởng giữa năng khiếu bẩm sinh và sự tiếp nhận văn hóa do được rèn dạy trong gia đình có gia phong đã làm nên một nàng Kiều mang vẻ đẹp lý tưởng. Và phải chăng, qua đây, Nguyễn Du muốn gửi gắm tới chúng ta hôm nay một thông điệp: chỉ khi nào người phụ nữ được hưởng một nền giáo dục nền nếp, quy củ, nhân văn, khai phóng, được quyền học hành thì khi ấy họ mới có thể hoàn thiện về nhân cách, phát sáng trí tuệ, bộc lộ tài năng và mới dám khẳng định mình, làm chủ được bản thân mình, nếu không thì chỉ mãi sống kiếp đời nô lệ mà thôi? Nhìn từ thuyết nữ quyền, có thể thấy Nguyễn Du đã sớm có cái nhìn tiến bộ, dành sự ưu ái đối phụ nữ. Bởi tiếng nói đòi sự bình đẳng về văn hóa giáo dục cho phụ nữ là vấn đề chưa bao giờ hoàn kết của nhân loại.

Nguồn: Internet

Chính vì được giáo dục trong gia đình có truyền thống văn hóa nên tâm hồn bẩm sinh vốn đã phong phú của nàng Kiều lại càng trở nên nhạy cảm, tinh tế. Kiều yêu cái Đẹp và luôn hướng về cái Đẹp – đó là điều có thể xác tín ở tài cầm, kỳ, thi, họa của nàng. Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất trong phẩm tính tâm hồn của Kiều là nàng biết yêu thương và trân trọng Con Người, đặc biệt là những người tài hoa mà bất hạnh. Có lẽ trong suốt thiên truyện mọi sự lựa chọn của Kiều đều xuất phát từ quan điểm sống mang tính nhân văn này. Sự lựa chọn dẫu có thể không mang lại cho bản thân Kiều hạnh phúc, bình yên nhưng theo nàng đó là sự lựa chọn đúng. Người có lương tri sẽ không thể lựa chọn cái sai để cầu mong danh lợi cho riêng mình. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà trong khung cảnh lễ hội mùa xuân tươi đẹp, khi mọi người tưng bừng vui vẻ “gần xa nô nức yến anh/ chị, em sắm sửa bộ hành chơi xuân…” thì Kiều lại quan tâm đến một nấm đất “sè sè” bé nhỏ – nấm “mồ vô chủ” của ca nhi Đạm Tiên nằm lạnh lẽo, cô độc bên đường. Một chuỗi hành vi tiếp nối nhau của Thúy Kiều được Nguyễn Du miêu tả tỉ mỉ: hỏi thăm chu đáo về chủ nhân của nấm mộ, rồi “đầm đầm châu sa” khóc thương cho người bạc mệnh, rồi suy tư, ngẫm ngợi về những bất công, về những đau khổ mà thân phận của người đàn bà (trong đó có mình) phải gánh chịu và đi đến cái nhìn bao quát về nhân tình thế thái đầy triết luận “Đau đớn thay, phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”,… Rồi sau này khi gia đình gặp cơn tai biến, nàng đã dũng cảm chấp nhận: “Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”, rồi nàng đứt ruột chấp nhận mang tiếng “phụ” chàng Kim, hy sinh tình yêu của riêng mình,… tất cả cho thấy Kiều là cô gái khác mọi cô gái, khác với rất nhiều người thuộc đám đông xã hội, nàng có một cá tính, có một thế giới tình cảm phong phú và sâu sắc. Nhận thức, sự hiểu biết và tư duy về cuộc sống của nàng không hề hời hợt, đơn giản, sự vật hiện tượng xung quanh nàng luôn được nàng nhìn nhận từ chiều sâu tâm cảm và văn hóa. Với một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim biết yêu thương và một khối óc luôn phân biệt được đúng/sai rõ ràng nên Kiều luôn bộc lộ một thái độ sống bao dung, vị tha, hướng về chân lý, lẽ phải.  Và đó cũng chính là căn nguyên sâu xa nhất lý giải vì sao Kiều dám xé rào, vượt qua bao luật lệ bạo tàn, vô lý vốn đè nặng lên thân phận người phụ nữ để đi theo tiếng gọi tình yêu đích thực.

Nguyễn Du đã thấu hiểu và chia sẻ cùng nhân vật của mình tận cùng sự cảm thông và trân trọng yêu thương. Trong câu chuyện tình yêu Kim – Kiều cần phải thấy sự nhất quán trong tư tưởng của tác giả khi ông luôn khẳng định quyền được tự do lựa chọn của Thúy Kiều là đúng và điều đó đồng nghĩa với việc xác quyết một chân lý: chỉ có sự tự do lựa chọn tình yêu mới mang lại giá trị nhân vị và hạnh phúc thực sự cho con người. Quan điểm rất biện chứng này của Nguyễn Du thể hiện cái nhìn khoa học, khách quan, công bằng trong cách nhìn nhận, đánh giá người phụ nữ và cho đến hôm nay vẫn nguyên giá trị.

Trong tình yêu với Kim Trọng, Kiều là người luôn luôn chủ động. Trong đêm thề nguyện tình yêu, Thúy Kiều khước từ tình cảm ái ân của Kim Trọng. Nàng đâu có tiếc gì người yêu – “vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh?” nhưng nàng gìn giữ thân xác của mình cũng là gìn giữ sự bền vững của tình yêu mà nàng trân trọng. Vấn đề giải phóng thân xác của người phụ nữ cũng là một trong những vấn đề quan trọng của thuyết nữ quyền luận. Bởi vì “thân xác là một giá trị nhưng không phải là một giá trị buôn bán, đổi chác, giá trị của một đồ dùng, một dụng cụ” (Nguyễn Văn Trung). Thông qua quá trình tái hiện tâm lý nhân vật Kim – Kiều trong cuộc tình nồng thắm yêu đương, Nguyễn Du đã cấp cho nữ giới cái quyền được quyết định việc lựa chọn giữa đồng ý/ không đồng ý trong chuyện ái ân. Và có lẽ từ đó Đại thi hào muốn gửi gắm một khát vọng lý tưởng, một thông điệp văn hóa sâu sắc: Hôn nhân muốn có tình yêu và giữ gìn được tình yêu vĩnh cửu thì sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa đàn ông và đàn bà đòi hỏi phải được xây dựng hài hòa trên cả yếu tố tinh thần và thể xác. Nếu thiếu một trong hai yếu tố ấy mọi sự thương yêu rồi sẽ tan nát, rã rời. Tấm lòng rẻ rúng đã dành một bên thì duyên thắm cũng sẽ thành duyên bẽ bàng là tất yếu.

Quyền được tự do lựa chọn luôn song hành với sự bình đẳng. Từ góc nhìn này có thể thấy hành vi tự do qua thăm người yêu trọn ngày rồi gần trọn đêm khi người đàn ông chưa dám đường đột thăm mình, dẫu Kiều đã vi phạm bao nhiêu công thức giáo điều, bao nhiêu khuôn mẫu đạo đức ngày xưa thì chúng ta vẫn thấy đó là hình ảnh một cô Kiều đã nâng cao vị thế, làm phong phú hơn giá trị bản thân mình chứ không hề tự hạ thấp mình. Sự thông minh, tinh tế và thấm nhuần tinh hoa văn hóa cộng đồng đã khiến Kiều nhận thức rõ giá trị của sự yêu đương phải là giá trị của một lựa chọn, và Kiều chỉ lựa chọn có chàng Kim cho suốt đời nàng.
3. Có thể thấy, từ những nghiệm sinh sâu sắc về cuộc sống, với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản văn hóa quý báu, góp tiếng nói không nhỏ đòi quyền giải phóng cho phụ nữ – một vấn đề với nhân loại hôm nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Xung quanh câu chuyện tình yêu vô cùng đẹp, lãng mạn nhưng cũng quá nhiều bi kịch, khổ đau của Kim Trọng – Thúy Kiều, Nguyễn Du đã khẳng định được những giá trị của một hệ tư tưởng nhân văn vượt tầm thời đại. Bởi lẽ quan điểm nhìn nhận, đánh giá về giá trị người phụ nữ của Nguyễn Du có rất nhiều điểm tiệm cận với quan điểm nữ quyền luận hiện đại mà phải trải qua bao biến thiên thế sự nhân loại mới đúc rút được trong những thập niên gần đây. Từ trong lòng xã hội phong kiến, khi mà quan điểm Nho giáo đang thống soái với những gọng kìm tàn bạo siết chặt số phận người phụ nữ thì Nguyễn Du đứng trên lập trường của chủ nghĩa nhân văn, tiến bộ đã xác quyết khả năng phi thường của nữ giới trên hành trình đi tìm giá trị bản thể. Với việc tự do lựa chọn và chủ động kiếm tìm tình yêu, hạnh phúc đích thực cho cuộc đời mình, nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt đến tự do với tư cách là một chủ thể đích thực chứ không phải như là tha nhân trong mối quan hệ với nam giới. Nàng thực sự là một phụ nữ hiện đại, có sự thức tỉnh ý thức cá nhân, khát vọng bản thể, mạnh mẽ khẳng định giá trị nhân vị và quyền sống của chính mình – và có lẽ đây chính là điều căn bản nhất làm nên một Nguyễn Du với Truyện Kiều trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
 Tài liệu tham khảo:
1. Trần Hoài Anh, Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975, Nxb. Hội Nhà văn, H.,2009
2. Nguyễn Du, Truyện Kiều (theo bản quốc ngữ cổ – 1937), Nxb. Văn học, H.,2010
3. Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, Nxb. Văn học, H., 2008
4. Thạch Trung Giả, Văn học phân tích toàn thư, Lá Bối Nxb.SG.,1973
5. Nguyễn Văn Trung, Ca tụng thân xác, Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM., 2006

Cao Thị Hồng