Những điều ít biết về tác giả bài hát “Mười chín tháng Tám”

395

VNTN – Rất nhiều người biết ca khúc “Mười chín tháng Tám ” gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Xuân Oanh. Nhưng còn nhiều điều bất ngờ và thú vị về ông  – một người nghệ sĩ đa tài – mà không phải ai cũng biết.


Tài sáng tác nhạc của ông đã trở thành giai thoại độc nhất của làng âm nhạc Việt. Ca khúc “Mười chín tháng Tám” được ông “xuất thần” sáng tác ngay trên đường phố khi cùng đoàn quân Cách mạng tiến về Bắc Bộ phủ giành chính quyền về tay nhân dân, vừa đi vừa sáng tác, được câu nào phổ biến ngay câu ấy. Khi đoàn biểu tình kéo đến địa điểm Nhà hát Lớn thì cũng vừa vặn hoàn thành bài hát: “Toàn dân Việt Nam… đứng đều lên góp sức một ngày…”. Và ông còn một lần “xuất thần” ngoạn mục trước bạn bè quốc tế trong một lần đi dự Hội nghị Hòa bình ở Nhật Bản năm 1989, tham gia xuống đường chống bom nguyên tử, ông đã phổ nhạc “nhanh như chớp” bài thơ Trời sẽ lại trong xanh của nhà thơ nổi tiếng Nhật Bản Umeda Shyozi, và rồi ôm đàn hát ngay trong buổi mít tinh đó, không chỉ gây ngạc nhiên thán phục, cảm động với bạn bè người Nhật ở quảng trường hôm ấy, mà ông đã gây ấn tượng sâu sắc về một nhạc sĩ tài năng của Việt Nam với bạn bè quốc tế cùng có mặt.

Câu chuyện về ông qua những ca khúc ông sáng tác, và qua những tác phẩm văn học, sân khấu ông dịch ra tiếng nước ngoài, tiếng Việt luôn làm cho các thế hệ sau phải kính nể và ngưỡng mộ. Ông có một người bạn nhạc sĩ rất thân từ ngày Giải phóng Thủ đô 1954, nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người được giới âm nhạc thế giới đặt biệt danh là “Beethoven Việt Nam”. Và câu chuyện về nhạc sĩ Xuân Oanh bắt đầu từ bức họa nhạc sĩ Beethoven do nhạc sĩ Xuân Oanh vẽ, treo trên tường, trước cây đàn piano trong phòng khách nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ.

Người nhạc sĩ tài hoa…
Nhạc sĩ Xuân Oanh tên khai sinh là Đỗ Xuân Oanh, sinh ngày 4/1/1923 tại một vùng quê Quảng Yên, Quảng Ninh, trong một gia đình tiểu thị dân nghèo có cha làm thợ may. Mẹ mất từ 6 tuổi, 14 tuổi, học xong tiểu học trường Pháp thuộc, ông bắt đầu tự kiếm sống bằng đủ các nghề: Thợ đúc, thợ mỏ, dạy học, vẽ tranh, nhạc công phòng trà. 19 tuổi, ông lên Hà Nội và bắt đầu học thêm một số nghề nữa. Giác ngộ cách mạng từ sớm, trước 1945, ông đã tham gia tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh. Tham gia Tổng khởi nghĩa và rồi lên chiến khu Việt Bắc làm việc cho Báo Cứu quốc. Đa tài với thơ, ca, nhạc, họa ông còn có một khả năng thiên bẩm về ngoại ngữ. Tự học nhưng nhạc sĩ Xuân Oanh đã thông thạo đến 7 ngoại ngữ.
Gia tài âm nhạc của ông không nhiều lắm, nhưng chỉ một ca khúc “Mười chín tháng Tám” đã làm nên một tên tuổi Xuân Oanh không thể nào quên, không chỉ với các thế hệ nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam, mà với nhiều thế hệ người Việt kể từ ngày 19/8/1945. Ở chiến khu Việt Bắc trong 9 năm kháng chiến, ca khúc được nhiều người nhớ đến và yêu thích nhất là “Quê hương anh bộ đội”, ca khúc mà sau này gần như các ca sĩ Việt dòng bán cổ điển hay cổ điển đều lấy làm bài học hát, luyện thanh nhạc và đi thi năng khiếu, tài năng… Ngoài ra, một số tác phẩm khác của ông cũng nổi tiếng và trở thành “sách giáo khoa” cho các sinh viên, học viên về thanh nhạc như: Cây súng bạn đường, Đời vẫn tươi, Ca mừng chế độ ta tươi đẹp, Hồ Chí Minh người là muôn ánh sao, Ngôi sao thế kỷ, Hợp xướng 4 chương Quê hương hai tiếng ấy, phổ nhạc Trời sẽ lại trong xanh (Thơ: Umeda Shyozi), Gọi thu (Thơ: Nguyễn Thị Hồng). Ngoài ra, ông còn sáng tác một số ca khúc như: Hoa nhài, Em ra đi, Sớm mai ấy, Suy tư, Bình minh trên đất nước không bao giờ tắt, Bạch dương, Hà Nội ở Lâm Đồng, Thổn thức mùa xuân, Anh có còn yêu em như ngày xưa…
Điều ít ai ngờ nhất, là ông không chỉ có tài về âm nhạc, mà ông rất có năng khiếu văn chương. Khiếu văn chương của ông được hỗ trợ bởi những ngoại ngữ ông tinh thông, đã góp phần mang văn học Việt Nam giới thiệu ra nước ngoài. Ông đã dịch thơ Hồ Xuân Hương trong Tuyển tập thơ nữ Việt Nam – NXB Phụ nữ, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ), tiểu thuyết Ông cố vấn (Hữu Mai) sang tiếng Anh… Ông cũng là một dịch giả tiếng Việt của một số tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng hay best sales của văn học đương đại như: Trần trụi giữa bầy sói (Bruno Apitz, cùng Hoàng Tố Vân), Hai số phận (Jeffrey Archer), Lucky, Nửa đêm về sáng, Một lần chưa đủ, Mãi mãi xanh, Máy yêu (Jacqueline Susann); Cổng vàng, Vườn Thượng Hải, Phía sau tình yêu, Bảo bối Thượng Hải (Vệ Tuệ)….
…suốt đời cống hiến vì Tổ quốc và nhân dân
Hai mươi tuổi nhạc sĩ Xuân Oanh đã là một thanh niên đầy nhiệt huyết, mang trong mình tinh thần yêu nước nồng nàn, có ý thức giác ngộ cách mạng và một ý chí quyết tâm theo cách mạng đến cùng. Vì thế, khi được nhà văn Nguyễn Đình Thi rủ vào Mặt trận Việt Minh ông đã tham gia ngay. Kể từ đó, ban ngày làm nhiều nghề kiếm sống: hát, vẽ tranh, dạy học thậm chí làm thuê ở cửa hàng giầy, đến tối ông cùng anh em bí mật đi tuyên truyền cách mạng cho bà con lao động. Ngày 19/8/1945, hòa trong dòng người tham gia cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền của lực lượng cách mạng, cuộc Tổng khởi nghĩa lớn của cả dân tộc vùng lên đấu tranh đòi giải phóng, tự do, độc lập. Không khí sôi sục, sự cộng hưởng tinh thần đấu tranh của toàn dân tộc như một luồng năng lượng cảm hứng, và như một sự mách bảo thiêng liêng, vào giờ phút ấy, chàng thanh niên Xuân Oanh đã “xuất thần” biến không khí và tinh thần đó thành giai điệu và lời ca. “Mười chín Tháng Tám” ra đời như một phép màu. Nhiều lần kể lại với công chúng khoảnh khắc đó, nhạc sỹ Xuân Oanh bồi hồi: “Mười chín Tháng Tám” là sản phẩm của cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh của nhân dân và xúc cảm của người dân mới được tự do tạo nên. Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày… vừa đi biểu tình tôi vừa nghĩ và cả lời lẫn nhạc từ đâu ào ạt đến trong tôi, bật ra một cách kỳ lạ”.
Ca khúc với lời ca giản dị, giai điệu hùng hồn nhịp bước, nhưng mang sức “nóng” lan tỏa nhanh từ trong đoàn người tham gia cướp chính quyền, đến nhân dân cả nước và trở thành một ca khúc sống mãi với những ca khúc cách mạng thời tiền khởi nghĩa, sống mãi với thời gian.
Sau khi cách mạng thành công, trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông được phân công làm công tác tuyên truyền, là một trong hai người Việt Nam đầu tiên thực hiện bản tin tiếng Anh trên Đài Tiếng nói Việt Nam, ông tham gia làm báo Cứu quốc đóng trên chiến khu Việt Bắc. Về sau công tác tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị và hòa bình. Khi được nghỉ hưu, ông cũng không ngừng làm việc, như một cách đóng góp sức mình cho văn hóa nghệ thuật nước nhà. Sinh thời ông hay nói: “Không làm việc tôi thấy mệt mỏi lắm”.
Thuở nhỏ ông vẽ tranh kiếm sống, khi tham gia cách mạng thì vẽ tranh minh họa cho báo, về già ông vẽ tranh để bản thân thư giãn và tặng bạn bè như một chút tấm lòng thơm thảo chân tình với các tri kỷ, tri âm… Và một trong bức họa ông vẽ tặng nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người bạn thân từ ngày giải phóng Thủ đô bức vẽ chân dung thiên tài âm nhạc Beethoven, bức họa sống động và toát lên được khí chất của thiên tài nhạc sĩ, khiến rất nhiều bạn bè quốc tế đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ đều trầm trồ khen ngợi. Hầu hết những gì ông có đều là tự học, học trong những tháng năm làm cách mạng, qua thực tế công tác mà không qua một trường lớp chính qui nào. Với vốn kiến thức như thế, có thể nói nhạc sĩ Xuân Oanh là một nhà ngoại giao văn hóa tài giỏi và uy tín, là một trong số các nhà văn hóa Việt Nam mà nhiều bạn bè và cả những nhà nghiên cứu văn hóa học nước ngoài đến Việt Nam đều muốn tìm gặp để trò chuyện, tìm hiểu. Ông hấp dẫn người đối thoại bởi sự uyên bác, thân mật, giản dị mà chân thành, khiến cho cuộc trò chuyện với ông bao giờ cũng ấn tượng. Ông từng là phát thanh viên chương trình tiếng Anh thế hệ đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông lại là người phiên dịch chính cho các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Năm 1951, tham gia thành lập Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới của Việt Nam, làm Tổng Thư ký kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban. Từ 1968 đến 1972, tại Hội nghị Paris về Việt Nam, tham gia Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách đại diện cho Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Việt Nam và Ủy ban Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ – Pháp, vận động phong trào chống chiến tranh xâm lược của Mỹ. Ông cũng từng đón tiếp nhiều nhà hoạt động chống chiến tranh từ Mỹ tới thăm Việt Nam giữa những ngày chiến tranh ác liệt, trong đó có Thượng nghị sĩ G.McGovern, nguyên ứng cử viên Tổng thống Mỹ, nữ nghệ sĩ Jane Fonda và chồng bà khi đó là Tom Hayden…
Nhạc sĩ Xuân Oanh đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1998, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Sau thời gian dài bệnh nặng, ông qua đời ngày 27/3/2010, thọ 87 tuổi.
70 năm, mỗi khi mùa thu về, khi cả nước hướng về kỷ niệm khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, giai điệu “Mười chín tháng Tám” lại hào hùng sôi động vang lên, như vẫn luôn thấm đẫm khí thế hừng hực của ngày hôm ấy, thấm đẫm niềm tự hào của những người dân quyết phá xích xiềng áp bức nô lệ, giành chính quyền vào tay nhân dân, làm chủ quốc gia độc lập, tư do. Và nhạc sĩ Xuân Oanh luôn được nhắc đến như một nhạc sĩ của mùa thu cách mạng Việt Nam, luôn sống mãi trong tưởng nhớ của mọi người cũng như ca khúc “Mười chín tháng Tám” của ông.

 

 

Hoài Hương