Nạn đói năm Ất Dậu – nỗi đau lịch sử (kỳ II)

939

Nạn đói năm Ất Dậu – nỗi đau lịch sử (kỳ I)

Kì 2: Nguyên nhân nạn đói và cách khắc phục

VNTN- Ai là thủ phạm chính gây ra thảm cảnh 2 triệu người Việt Nam chết đói năm 1945? 

Trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án và nhắc lại sự kiện bi thảm này “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”. Và nhiều, nhiều công trình khác nữa đã chứng minh chính thực dân Pháp và phát xít Nhật là thủ phạm chính gây ra thảm cảnh này cho dân tộc Việt Nam khi ấy.

Nhân dân góp gạo cứu đói

Phát xít Nhật vào Đông Dương nhưng thực chất không hề giải giáp thực dân Pháp. Bằng chứng là bộ máy thống trị kể từ khi Nhật vào Đông Dương vẫn do toàn quyền của Pháp đứng đầu và trực tiếp làm tay sai cho Nhật. Nhật chỉ chính thức thay chân Pháp sau đảo chính ngày 9-3-1945. Kể từ khi phát xít Nhật vào Đông Dương, mặc dù với thực dân Pháp xâm lược hai bên có mối thù vì cùng tranh chấp quyền lợi ở Đông Dương, nhưng trước phong trào kháng chiến phát triển mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam, đặc biệt từ khi Mặt trận Việt Minh ra đời năm 1941, hai kẻ thù ấy lại thấy cần phải dựa vào nhau và cấu kết với nhau để cùng “đè đầu, cưỡi cổ” nhân dân Việt Nam. Để làm suy yếu lực lượng cách mạng đang lên, không gì bằng đánh vào dạ dày của họ. Cùng với các chính sách của Nhật về phá lúa trồng đay thu mua lúa gạo thì nạn vỡ đê, mất mùa năm 1944 cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho nạn đói thêm trầm trọng và khủng khiếp.

Bác sĩ Ngô Văn Quỹ trong một tham luận của mình về nạn đói đã cho biết “Cuối năm 1944, quân số của Nhật ở Bắc Kỳ đã lên tới gần 100.000 người. Bắc Kỳ lúc đó đã thiếu gạo, vì ba trận bão tàn phá các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Bắc Ninh, làm cho vụ mùa bị thất thâu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, nay lại phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật. Theo tờ trình của Thống sứ Bắc Kỳ Chauvet, thì vào năm 1944 ở Bắc Kỳ, diện tích trồng cây công nghiệp đã lên tới 45.000 ha”.

Cụ Ngô Tử Hạ – nhà tư sản dân tộc, người đứng đầu Hội Cứu tế, cứu đói 

của Chính phủ 

(sau này là đại biểu cao tuổi nhất của Quốc hội khóa I) 

đang kéo xe quyên góp gạo trong ngày cứu đói

Ngoài các chính sách tô thuế, Nhật còn đưa ra “chương trình kinh tế chỉ huy” để thực hiện một cách triệt để chủ trương phát xít của mình. Bắt đầu từ ngày 6-5-1941, Nhật buộc Pháp kí một Hiệp ước kinh tế yêu cầu Pháp phải cung cấp lương thực ở Đông Dương cho Nhật hàng năm, năm sau cao hơn năm trước. Theo tài liệu của Viện Sử học: năm 1941 là 700.000 tấn gạo; năm 1942 là 1.050.000 tấn gạo và 45 tấn bột gạo; năm 1943 là 1.125.904 tấn; năm 1944, mặc dù mất mùa nhưng vẫn phải cung cấp cho Nhật 900.000 tấn. Ngoài ra Nhật còn cho Pháp xuất khẩu gạo sang các nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc. Tham luận của bác sỹ Ngô Văn Quỹ cũng cho biết ngay trong năm 1945, tức lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm, vậy mà theo các tài liệu chính thức của Pháp – Đông Dương đã thu hoạch được 2.700.000 tấn thóc, ước tính nhu cầu của nhân dân chỉ là 1.600.000 tấn; vậy là vẫn còn dư ra 1.100.000 tấn. Và ông khẳng định “Thừa thóc, thừa gạo mà để dân chết đói đến 2 triệu người, trước lịch sử, đây quả là một tội ác “trời không dung, đất không tha”.

Trong tập tài liệu “Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta”, ông Yoshizawa Minami – một người Nhật Bản đã viết: “…Đông Dương có vị trí then chốt đối với Nhật Bản về lương thực. Ngoài lượng gạo nhập khẩu vào Nhật, quân đội Nhật còn rất cần một trữ lượng gạo lớn lao để tiếp tế cho các mặt trận đang lan rộng khắp Á Châu và khu vực Thái Bình Dương. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp gây nạn chết đói cho hai triệu người Việt năm 1945…”.

Trong khi chuẩn bị viết loạt bài này, tác giả thật may mắn khi gặp nhân chứng của tội ác kinh hoàng của Phát xít Nhật trong nạn đói 70 năm trước, đó là bà Đỗ Thị Hải, năm nay 83 tuổi. Bà là vợ của ông Tám Thông – Lâm Duy Thông, Nguyên Phó Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, thời nhà thơ Bảo Định Giang là Bí thư – và là mẹ của ông Lâm Hữu Đức, Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Quận ủy Thủ Đức hiện nay. Bà quê ở Ý Yên, Nam Định. Trước khi nạn đói xảy ra, bà được cho đi ở chăn trâu cho địa chủ. Sau nạn đói, bà quay về nhà thì cả gia đình 5 người gồm cha, mẹ, anh, chị và một người em chết đói cả. Riêng bà, may đi ở cho địa chủ nên thoát chết. Bà kể:

“Hôm đó, tôi đang chăn trâu ở triền đê, thấy xe nhà binh Nhật chở thóc đổ xuống sông. Một lúc sau có gần 20 người ở làng gần đó ra lặn xuống mò vớt thóc. Không biết vì sao sĩ quan Nhật biết, họ quay trở lại và bắt toàn bộ những người mò thóc và bắt đứng thành hàng ngang. Tôi thấy lưỡi kiếm của sĩ quan Nhật sáng bóng vung lên và đầu của từng người rơi xuống. Tôi nhìn thấy có một anh khi kiếm chưa lia tới nhưng anh tự động ngã xuống trước. Sau khi tất cả đều bị chặt đầu và xe nhà binh Nhật đi xa, anh ấy liền lồm cồm bò dậy, bộ quần áo rách nát nhuộm đỏ máu của những người vừa bị giết. Thấy anh ấy đi về phía làng. Tôi liền gọi và nói, anh kia, bọn Nhật nó còn chưa đi xa đâu, quần áo anh đầy máu me vậy anh vào làng nó thấy nó giết đi. Nghe vậy, anh xuống tắm giặt sạch rồi mới đi về”.

Bà còn cho biết thêm: “Người chết đói nằm ở dọc đường như ngả rạ. Buổi sáng xe nhà binh đi nhặt xác, tôi nhìn thấy họ vác xác người vứt lên xe không kể đã chết hay còn sống. Tôi nghe có người nói tôi chưa chết, người đi nhặt xác nói chưa chết rồi chút nữa cũng chết, để mày nằm đây chút mày chết quan họ xử chúng tao cho ăn chỉ mỗi việc đi nhặt xác mà không xong. Vừa nói họ vừa bê người đó vứt lên thùng xe”.

Lời kể của bà phù hợp bối cảnh lịch sử khi ấy, tác giả Yoshizawa Minami cho biết “ông Kawai, đảm nhiệm công việc giám sát chuyển gạo từ Nam ra Bắc qua tỉnh Nam Định, đồng thời là quản lý chung về gạo dự trữ, phân phối trong tỉnh, nói có những nơi vẫn còn gạo chất như núi trong kho quân đội. Không những thế, tại một nhà thờ Thiên chúa giáo trong tỉnh gạo đầy ắp trong kho. Ông đã thuyết phục cán bộ đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng họ không nghe”. Còn nghiên cứu của Giáo sư Văn Tạo cho biết Thống sứ Bắc Kỳ chủ ý gây ra nạn đói này cho Việt Nam để thực hiện mục đích kép là chính trị và kinh tế. Mục đích chính trị là “hãm bớt nhiệt tình yêu nước” của nhân dân Việt Nam. Mục đích kinh tế là để một vài công ty của Pháp, Nhật mua gạo giá rẻ và bán giá cắt cổ cũng như để dễ dàng tuyển mộ cu ly cho các đồn điền, hầm mỏ.

Năm nay, khi Việt Nam kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đâu đó đã xuất hiện những ý kiến cho rằng Việt Minh đã cướp quyền của Chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật trao trả độc lập trước đó. Thật là kỳ lạ, tại sao những nhà nghiên cứu này lại có “gen” dễ quên như vậy. Một thủ phạm vừa gây ra nạn đói thảm khốc giết hại 2 triệu đồng bào ruột thịt của mình mà oan hồn, uất khí vẫn chưa tan có thể dễ dàng tin vào lời tuyên bố của họ về trao trả độc lập như vậy hay sao?! Trong một nghiên cứu, tác giả Trần Gia Phụng cho rằng thủ phạm gây ra nạn đói có cả Việt Minh (?!). Theo tác giả này “Việt Minh còn là tòng phạm với Pháp và Nhật trong nạn đói này làm cho hai triệu đồng bào bị chết” (?!). Tác giả Trần Gia Phụng cho rằng “Việt Minh xúi dân chúng chống đối việc trưng mua lúa gạo, xúi dân đánh phá các kho lúa. Trong cơn nghèo đói túng quẫn, có người bày cho phương cách kiếm gạo để ăn, nên dân chúng hưởng ứng khá đông”. Thật lạ kì, phá kho thóc gạo của kẻ thù cướp trắng của mình để tự mình cứu lấy mình mà gọi là góp phần gây ra nạn đói hay sao? Nhà thơ Bàng Bá Lân trong bài thơ “Đói” đã chỉ ra đích danh thủ phạm: Cùng lúc ấy cũng trên đường rộn rã,/ Từng đoàn xe chuyên chở thóc vàng tươi./ Thóc của dân đen, thóc của những người./ Đang chết đói vì thực dân cướp thóc./ Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!/ Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!/ Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!/ Quên sao được hai triệu người chết đói!.

Chính quyền cách mạng với việc thanh toán nạn đói năm 1945

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào. Một ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là cứu đói để vực dậy một dân tộc đã và đang trải qua nạn đói kinh hoàng.

Cụ bà Đỗ Thị Hải

Trong phiên họp đầu tiên này, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về 6 nội dung cấp bách phải thực hiện, đó là: (1) Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói; (2) Mở phong trào chống nạn mù chữ; (3) Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; (4) Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại; (5) Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; (6) Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.

Một trong những việc làm đặc biệt có ý nghĩa của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa là tổ chức lạc quyên cứu đói để kịp thời dập tắt nạn đói. Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28-9-1945, Báo Cứu Quốc đã đăng thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào cả nước kêu gọi mọi người nêu cao tinh thần “nhường cơm, sẻ áo” cứu giúp đồng bào: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Trong cuộc vận động này, Hồ Chủ tịch là người gương mẫu thực hiện đầu tiên và triệt để, theo đó, nếu những buổi dùng cơm với khách trùng vào ngày nhịn ăn, Người tự động nhịn bù vào ngày hôm sau. Tại buổi khai mạc lễ phát động phong trào cứu đói được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội sau đó, Hồ Chủ tịch đã đem phần gạo nhịn ăn của mình đóng góp trước tiên.

Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như cho phép vận chuyển thóc gạo; nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào những công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban có nhiệm vụ lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc (công việc này đã bị đình trệ sau đó vì thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ). Ngày 2-11-1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố – một nhân sĩ nổi tiếng – quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các làng. Ngày 28-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ngoài Bộ Cứu tế, một số Bộ khác cũng có nhiệm vụ cứu tế và tiếp tế. Hưởng ứng lời kêu gọi tha thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua cứu đói đã diễn ra rộng khắp trên cả nước với rất nhiều sáng kiến, cách làm sáng tạo như tổ chức “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, “Đoàn quân tiễu trừ giặc đói”. Hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào bị đói góp phần cứu đói kịp thời.

Cùng với quá trình khẩn cấp cứu đói, để đảm bảo giải quyết căn cơ và triệt để nạn đói, Chính phủ phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri qui định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng. Ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất. Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới.

Phong trào tăng gia, sản xuất diễn ra sôi nổi trong khắp cả nước kể từ Chủ tịch Chính phủ đến mọi cán bộ cao cấp của Đảng ngoài giờ làm việc chính thức đều tham gia. Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, phong trào tăng gia sản xuất đã thu được kết quả to lớn. Sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục, nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân dần ổn định. Chỉ trong 5 tháng từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 5 năm 1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là màu đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Đến hết năm 1946, nạn đói đã cơ bản đã được giải quyết.

Lễ phát động Ngày cứu đói tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Trong lễ kỉ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, ông Võ Nguyên Giáp khi ấy là Chủ tịch quân sự, Ủy viên trong Chính phủ liên hiệp đã tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kì công của chế độ dân chủ”.

Cho dù thủ phạm gây ra thảm cảnh này cho dân tộc Việt Nam 70 năm trước đã quá rõ ràng, nhưng với một dân tộc hòa hiếu và yêu chuộng hòa bình, nhân dân Việt Nam sẽ không “đòi nợ” bất kỳ ai, bởi nếu đòi nợ thì đất nước và dân tộc này có quá nhiều “con nợ”. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là “Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhưng gác lại không có nghĩa là quên đi, bởi lịch sử sẽ mãi mãi là “lịch sử”.

Vũ Trung Kiên