Để dự thảo Luật Báo chí hoàn thiện hơn

107

LTS: Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) đang được cơ quan soạn thảo lấy ý kiến đóng góp của giới báo chí và toàn xã hội để trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp tới. Ngày 1.9 vừa qua Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp xây dựng văn bản này, với sự tham dự của đại diện các cơ quan báo chí, các ngành hữu quan trên địa bàn. VNTN xin giới thiệu bài viết của luật gia Lê Thị Minh Hiếu (Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên), với những đóng góp rất xác đáng cho dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), được trình bày tại Hội nghị này.


Sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực từ 01.01.2014 với những quy định mới hết sức tiến bộ và yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết, trong 2 năm 2014 và 2015, nhiều dự án luật, bộ luật đã được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế; góp phần quan trọng trong việc đưa nước ta hội nhập sâu rộng hơn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, dân sự, thương mại… Dự thảo Luật Báo chí được lấy ý kiến lần này cơ bản được xây dựng trên những quan điểm chỉ đạo của Đảng về tăng cường vai trò của báo chí với những đột phá nhất định trong công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này. Là người thường xuyên theo dõi các tác phẩm báo chí, nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa dự thảo Luật, tôi xin có một số đóng góp như sau:

Nguồn: thainguyen.gov.vn

1. Về Đối tượng áp dụng (Điều 2) 
Dự thảo quy định: “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động báo chí và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động báo chí tại nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Quy định như trên dẫn đến cách hiểu các hoạt động báo chí được điều chỉnh theo Luật này là các hoạt động diễn ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (mở rộng hơn là tại trụ sở các cơ quan Đại sứ quán, lãnh sự quán của nước ta ở nước ngoài); trong khi đó chúng ta có nhiều nhà báo, các cơ quan thường trú của báo chí tại nước ngoài; dự thảo luật cũng quy định nội dung xuất, nhập khẩu báo in; hợp tác quốc tế của báo chí (Điều 54, 55). Do đó đề nghị thay từ “tại” bằng từ “của” sẽ phù hợp hơn.

2. Về Giải thích từ ngữ (Điều 4)

Việc giải thích từ ngữ được dùng trong dự thảo Luật nhằm giúp cho việc áp dụng luật được thống nhất, minh bạch; do đó, cần làm rõ một số khái niệm để đảm bảo chính xác hơn. Chẳng hạn, từ “báo chí” là một từ ghép tiếng Việt nên cũng cần có cách giải thích cụ thể theo từ điển tiếng Việt chính thức, từ đó mới có thể giải thích về các khái niệm có liên quan là “báo chí in”, “báo chí điện tử”…  Cần có sự giải thích để thấy rõ những đặc thù phân biệt giữa các loại hình báo chí; đối với các từ, cụm từ được giải thích cần có sự chặt chẽ hơn trong việc nêu nội hàm, cần thiết kèm theo các điều kiện mang tính nguyên tắc để tránh bị lạm dụng (ví dụ: phụ trương, trang thông tin điện tử tổng hợp…).

3. Về Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí (Điều 5)

– Các nội dung tại khoản 2 cơ bản là quy định về các nhiệm vụ hơn là quyền hạn, mặc dù có ý kiến cho rằng những nhiệm vụ đó đồng thời cũng chính là quyền hạn (nói đúng hơn là các quyền năng) của báo chí. Tuy nhiên, cách giải thích đó chưa thuyết phục và việc quy định như dự thảo cũng chưa rõ quyền hạn của báo chí. Do đó, đề nghị thiết lập riêng khoản 3 Điều này để quy định về quyền hạn của báo chí.
Ví dụ: “3. Quyền hạn của báo chí:
a) Được sử dụng các công cụ nghiệp vụ để tác nghiệp nhằm thực hiện các nhiệm vụ của mình.

b) Được Nhà nước tạo điều kiện để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra theo quy định của pháp luật…”.

4. Về Những nội dung bị cấm trong hoạt động báo chí (Điều 11)

– Đối với những hành vi tại khoản 1, để phù hợp với cơ chế xử lý sau này thì ngay trong Luật, dự thảo nên sắp xếp các hành vi vi phạm theo các nhóm tương ứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi đó, theo đó nhóm các hành vi nghiêm trọng hơn được đề cập trước thì sẽ có tác dụng tuyên truyền và phòng ngừa, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính về sau.
Tại điểm d, bổ sung cụm từ “hoặc chưa có cơ sở pháp lý phù hợp” trong hành vi “Thông tin sai sự thật hoặc chưa có cơ sở pháp lý phù hợp” để bao hàm luôn hành vi “thông tin quy kết tội danh khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án” bởi lẽ ngoài bản án có thể còn có các quyết định của Tòa án, hoặc các thông tin về xem xét kỷ luật tổ chức, cá nhân; các vụ việc xem xét xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa có quyết định chính thức… có thể bị lợi dụng để thông tin giật gân, lôi kéo độc giả trong hoạt động báo chí.

Đề nghị bổ sung chủ thể có khả năng bị “xúc phạm danh dự” là “gia đình, dòng họ” để đảm bảo đầy đủ vì trên thực tế, với phong tục tập quán của Việt Nam, danh dự của các gia tộc, dòng họ cũng có giá trị thiêng liêng cần được bảo vệ; nó không thuộc phạm trù danh dự, uy tín của cơ quan, tổ chức và vượt ra ngoài danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

5. Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí (Chương II)

– Quy định tại khoản 6 Điều 12: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi đăng, phát sóng” là một quy định hết sức cụ thể, rõ ràng và tiến bộ cho hoạt động báo chí, cởi trói cơ bản cho việc thực hiện quyền tự do báo chí.
Tuy nhiên, để đảm bảo quy định này phát huy được tính chất tiến bộ của nó mà không phát sinh các tiêu cực trong hoạt động báo chí thì rất cần có những cơ chế chặt chẽ quy định về quy trình đăng, phát sóng các sản phẩm báo chí cũng như các chế tài nghiêm khắc trong hoạt động báo chí.
– Đề nghị dự thảo bổ sung quy định việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với việc không đảm bảo thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân khi không đăng, phát ý kiến của công dân, đã có trả lời nhưng chưa thỏa đáng, chưa được công dân chấp nhận tại khoản 2 Điều 14.
Lý do: Tại khoản 3 Điều 14, khoản 2 Điều 15 quy định rõ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc trả lời của các cơ quan khác về những kiến nghị, phê bình đã được đăng, phát trên báo chí hoặc không được các cơ quan đó giải quyết thỏa đáng để đảm bảo giải quyết tận gốc quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Nhưng đối với chính các cơ quan báo chí thì mới chỉ dừng lại ở việc trả lời về lý do không đăng, phát kể cả trường hợp công dân không đồng ý với trả lời đó thì chưa có bước giải quyết tiếp theo.

6. Về Tổ chức báo chí (Chương III)

– Điều 16: Đối tượng được thành lập cơ quan báo chí
Theo dự thảo Luật, không có việc thành lập các doanh nghiệp báo chí tư nhân. Đây là vấn đề nhạy cảm, trong giai đoạn hiện nay việc thành lập các cơ quan báo chí cần hết sức thận trọng để đảm bảo giữ vững an ninh, quốc phòng; hòa bình, hòa hợp dân tộc; trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên, dưới góc độ bảo đảm quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, dự thảo cũng cần có sự giải trình cụ thể, nếu như các doanh nghiệp tư nhân đảm bảo các điều kiện theo quy định, thực hiện đúng các chức năng, nhiệm vụ tại Điều 5, không vi phạm các quy định tại Điều 11 thì có được cho phép hoạt động trong lĩnh vực báo chí hay không?
– Điều 19. Điều kiện hoạt động của báo chí:
Khoản 4 quy định một trong các điều kiện là: “Phù hợp với quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” là cần thiết nhưng xét dưới góc độ xây dựng luật thì không phù hợp, vì Luật do Quốc hội ban hành nên không thể lấy quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở được mà phải theo logic ngược lại, quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ phải được xây dựng trên cơ sở các quy định của luật.
Do đó, đề nghị dự thảo bổ sung thêm một phần quy định về mục tiêu, quy mô, tiêu chuẩn, điều kiện quy hoạch phát triển và quản lý báo chí làm cơ sở cho Thủ tướng xây dựng quy hoạch. Theo đó, khoản 4 ở trên được sửa lại như sau: “Phù hợp với quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trên cơ sở các quy định về quy hoạch phát triển và quản lý báo chí được quy định tại Luật này”
– Điều 25. Loại hình hoạt động và nguồn thu của cơ quan báo chí
Để đảm bảo đúng mục tiêu, tôn chỉ, mục đích hoạt động báo chí; thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của báo chí, đề nghị dự thảo cần có những quy định để tránh sự lạm dụng trong thực hiện các quy định tại khoản 2 “Cơ quan báo chí được hoạt động kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật” và điểm b, c khoản 3 về nguồn thu của báo chí từ hoạt động quảng cáo; hoạt động kinh doanh, dịch vụ… Nghĩa là cần có những quy định mang tính nguyên tắc giữa việc bảo đảm các nội dung hoạt động báo chí để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và việc thực hiện hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận phù hợp.
– Điều 26. Văn phòng đại diện, phóng viên thường trú…
Việc quy định thủ tục cấp phép tại Khoản 4 về việc cử phóng viên thường trú hoạt động độc lập thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh như cấp phép cho một văn phòng thường trú là không cần thiết bởi lẽ trên thực tế các phóng viên này có thể thường xuyên thay đổi theo yêu cầu công tác, thậm chí do hoàn cảnh gia đình. Do vậy, quy định như dự thảo là tương đối phiền phức về thủ tục hành chính.
Hơn nữa, trong quá trình tác nghiệp, thẻ nhà báo (hoặc các giấy tờ khác có giá trị hành nghề theo quy định) mới là điều kiện cần thiết để các phóng viên báo chí hoạt động tại các địa phương. Còn cụm danh từ “phóng viên thường trú” được xem xét nhiều hơn từ góc độ cơ quan báo chí cử và phân công nhiệm vụ cho đội ngũ phóng viên do mình quản lý. Chính vì vậy, cần đơn giản hơn thủ tục cử phóng viên thường trú tác nghiệp tại các địa bàn cho phù hợp với tính năng động, nhanh nhạy của hoạt động báo chí hiện nay.
– Điều 34. Quyền và nghĩa vụ của nhà báo
Đề nghị bổ sung tại điểm đ, khoản 1: “Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, tinh thần; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu; cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật” bởi trên thực tế, việc uy hiếp tinh thần, bạo hành về tinh thần cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của các nhà báo.
Sửa điểm c khoản 2 như sau: “… không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật” thành “… không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật” cho chính xác.
– Điều 36. Đối tượng được xét cấp thẻ nhà báo:
Theo dự thảo, đối tượng quy định tương đối rộng. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của nhà báo cũng như giá trị của thẻ nhà báo, đề nghị dự thảo nên cân nhắc việc cấp thẻ nhà báo cho người trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về báo chí (đối tượng này rất nhiều và khó xác định), giảng viên chuyên ngành báo chí tại các trường đại học công lập vì thẻ nhà báo được cấp chủ yếu để nhà báo tác nghiệp và cho ra đời các tác phẩm báo chí chứ không phải cấp cho đội ngũ những người có hoạt động liên quan đến báo chí. Mặt khác, nếu quy định như trên cũng không phù hợp vì trong xu hướng xã hội hóa giáo dục, việc phân biệt trường công lập và dân lập sẽ có những hiệu ứng bất lợi.
Cũng cần quy định về số lượng các sản phẩm báo chí cần có sau khi được cấp thẻ và coi đó như một trong những trường hợp có thể thu hồi thẻ nhà báo nếu không phát huy được vai trò của nhà báo khi được cấp thẻ.
– Điều 37. Điều kiện, tiêu chuẩn được xét cấp thẻ nhà báo

Đề nghị bổ sung tại khoản 4 những trường hợp không được xét cấp thẻ nhà báo là “người đang có tiền án”, đồng thời trong hồ sơ, thủ tục cấp, đổi, thu hồi thẻ tại khoản 3 Điều 35 giao cho Bộ TT& TT cần quy định trong hồ sơ có “Phiếu Lý lịch tư pháp” để đảm bảo lý lịch của người được cấp Thẻ nhà báo.

7. Về hoạt động báo chí (Chương IV)

– Điều 38. Cung cấp thông tin cho báo chí
Khoản 3 quy định: Cơ quan báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Trong tình hình hiện nay và yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, khuyến khích tính tích cực trong phát hiện và tố giác tội phạm, quy định này cần cân nhắc kỹ hơn. Việc bảo vệ nguồn tin là hết sức quan trọng trong hoạt động báo chí cũng như công cuộc chống tham nhũng. Do đó, chỉ nên quy định việc tiết lộ người cung cấp thông tin là trong những trường hợp cực kỳ cần thiết, đối với những vụ án có tính chất rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Bởi quy định như trong dự thảo luật là đối với các tội nghiêm trọng, theo BLHS hiện hành và kể cả dự thảo BLHS đang xem xét sửa đổi thì phạm vi số lượng các vụ việc buộc phải cung cấp nguồn tin rất lớn; dễ bị lợi dụng để tìm kiếm người cung cấp thông tin và việc bảo vệ người cung cấp thông tin cũng sẽ rất khó khăn.
 Cần xác định rõ nội dung “cần thiết cho việc điều tra, xét xử” là theo đánh giá của cơ quan tư pháp cấp tỉnh trở lên hay theo đánh giá của cơ quan báo chí và nhà báo để đảm bảo việc thực hiện đúng. Trong trường hợp sự đánh giá của hai cơ quan này khác nhau thì xử lý như thế nào? Trường hợp thấy không cần thiết và có biện pháp khác để giúp cơ quan tư pháp điều tra thì cơ quan báo chí và nhà báo có quyền không tiết lộ thông tin không?
Ngoài ra cũng cần quy định trách nhiệm của cơ quan được cung cấp thông tin từ cơ quan báo chí, nhà báo về việc bảo vệ người cung cấp thông tin.
Có như vậy, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mới đạt được tính tích cực và vượt qua những rào cản lớn như hiện nay là người dân ngại cung cấp thông tin vì không được bảo vệ hoặc chưa nhìn thấy cơ chế được bảo đảm an toàn sức khỏe, tính mạng cho bản thân và gia đình.
Có thể nói, với tính chất và tầm ảnh hưởng sâu rộng, chắc chắn dự thảo Luật Báo chí sẽ nhận được sự tham gia tích cực không chỉ trong giới báo chí mà còn trong đông đảo các tầng lớp nhân dân. Với mong muốn đồng hành cùng các nhà báo, các cơ quan báo chí, cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí trong việc xây dựng thể chế cho hoạt động này, chúng ta có thể tin tưởng rằng với những quy định mới, Luật Báo chí khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực sẽ làm phong phú hơn nữa đời sống báo chí, là động lực thúc đẩy sự hình thành các sản phẩm báo chí cách mạng, góp phần tích cực trong xây dựng và phát triển đất nước, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay.

 

Lê Thị Minh Hiếu