Nghề văn: kiếm củi và nhóm lửa, giữ lửa

345

VNTN – Sáng tác văn chương – gọi chung là nghề văn là một nghề nghiệp độc đáo, mang tính đặc thù rõ nét. Nó cũng là nghề nghiệp như mọi nghề nghiệp, người ta cũng chọn nghề, làm nghề, có thành công và có thất bại trong nghề, có chọn đúng và chọn nhầm nghề v.v.. như nghề dạy học, nghề bác sĩ, công an v.v… Nhưng tính đặc thù của nó thể hiện ở chỗ: Mọi nghề nghiệp khác dù đam mê công việc đến đâu người ta cũng tính toán hiệu quả kinh tế, khi thực hiện công việc của mình. Tôi dạy môn Văn, có trường học trả cho tôi 40. 000 đồng/ tiết dạy. Tôi không nhận lời vì phải đi dạy xa hơn 10 km, giá cả ấy là rẻ rúng quá. Ấy vậy mà tôi cùng nhiều người làm thơ vật vã với thơ mấy chục năm, không tính toán đến hiệu quả kinh tế khi làm thơ bao giờ. Thậm chí các thi sĩ vẫn khát khao sáng tác, đọc, in và không bán được sách, biết trước là lỗ nặng mà biết bao nhà thơ vẫn sống chết với nghề, đặc biệt nghề văn không có trong danh mục nghề nghiệp được xã hội đào tạo, sử dụng và có thang bậc lương rõ ràng này.

Đam mê và khổ luyện, chấp nhận cả những hy sinh to lớn như gia đình lục đục hoặc chìm trong nghèo khổ, bản thân có thể trở thành một nghệ sĩ nửa mùa ngơ ngác, lạc lõng giữa cuộc đời, nhưng tại sao có người thành công có người thất bại? Có người rực sáng với một số tác phẩm ban đầu rồi lụi tắt, càng viết càng nhạt và giả? Theo quan sát của tôi và qua tâm sự của nhiều bạn văn chương, tôi thấy để trả lời những câu hỏi đó phải đề cập đến việc kiếm củi và nhóm lửa của nghề Văn.
Công việc đầu tiên, điều kiện thành công đầu tiên là phải kiếm củi: Ai cũng biết để trở thành một nhà văn, nhà thơ thì trong người viết phải có một điều kiện mang tính sống còn: vốn sống, tầm văn hóa, độ từng trải… Tất cả những vốn liếng ấy có thể tạm gọi là nội lực văn hóa của từng người, càng giàu có càng tốt, vì càng hiểu đời, hiểu người thì mới có thể viết đúng và viết hay về cuộc đời và con người. Nội lực văn hóa ấy chính là củi- phải kiếm cả đời, bằng nhiều con đường (học trong nhà trường, tự học, va đập và nếm trải của bản thân v.v…) trên nhiều lĩnh vực. Nếu tài năng văn học là lửa thì nội lực văn học là củi. Nghề văn đòi hỏi người nghệ sĩ phải khó nhọc kiếm củi cất, giữ, chuẩn bị cho thời điểm cầm bút sáng tác. Thật đúng là: Kiếm củi cả đời để đốt cháy dữ dội cho từng khoảnh khắc sáng tạo, đốt lần nào cũng là lần đốt đầu tiên.
Nhưng tại sao có nhiều người đã kiếm được rất nhiều củi do có ý thức tích lũy, học tập suốt đời mà viết vẫn nhạt, không bao giờ trở thành một nhà thơ, nhà văn đích thực? Câu trả lời có thể thật đơn giản, anh ta (chị ta) không có lửa hoặc có quá ít lửa tài năng. Thiếu đi ngọn lửa kỳ lạ ấy – ngọn lửa vừa là trời cho vừa là do nuôi dưỡng của bản thân, có bao nhiêu củi vẫn không thể trở thành một nghệ sĩ đích thực trong nghề văn. Chẳng hạn như có bao nhiêu người làm thơ cảm xúc trước sông Bằng (Cao Bằng), ví von sông Bằng là mái tóc, là tiếng thở dài, là tiếng hát v.v.. nhưng cho đến khi đọc câu thơ sau của Y Phương, ta giật mình nhận ra đâu là tài năng, đâu là cái na ná tài năng mà không ít người cứ ngộ nhận về mình rồi vĩ cuồng:
Có những mùa sông Bằng không chảy
Tôm cá đi thơ thẩn như người
                                           (Y Phương)
Tình huống kể trên còn lặp lại khi ta đọc một số câu thơ tài hoa của một số tài năng đích thực – những ngọn lửa cháy dữ dội mà so với họ, tôi thấy mình chỉ là lửa của một que diêm:
Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em
                                       (Nguyễn Bính)
Hay:
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may
                                   (Phạm Công Trứ)
Hay:
Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu
Cây đổ về nơi không có vết rìu
                                           (Hữu Thỉnh)
Trong khái niệm củi đã đề cập ở trên, bên cạnh vốn văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này, còn có một loại củi phải đặc biệt giữ gìn, không có nó thì có nhiều củi, nhiều lửa thì cũng đi lệch hướng, kết thúc cũng chỉ là thất bại mà thôi. Đó là nhân cách của người cầm bút – một nhân cách tử tế. Tính từ tử tế đọc qua tưởng thực hiện rõ dễ dàng, nhiều bạn viết trẻ sẽ cười khẩy, vì nghĩ chỉ cần tài năng chẳng cần tử tế vẫn viết hay, cư dân mạng vẫn hoan hô rầm trời, nhưng hóa ra không phải thế. Dù đã cố gắng học hành, tu dưỡng, đã quá nửa đời người, ngồi đếm tóc bạc rơi lã tã, nhiều người trong đó có tôi vẫn phải ôm lấy mặt, mượn lời anh Hộ trong Đời thừa của Nam Cao mà tự mắng mình: – Ta là một thằng khốn nạn! Người không tử tế, sẽ không viết được điều tử tế. Nếu giả vờ tử tế sớm muộn cũng lộ mà thôi. Hóa ra nhân cách tử tế là gió thổi để lửa nhen vào củi và sẽ cháy to hơn. Còn nhân cách không tử tế sẽ là mưa bùn, mưa bẩn hoặc tạo ra một ngọn lửa đen hoặc làm lửa tắt. Nhưng xin nói nhỏ với các bạn, qua quan sát mấy chục năm của tôi, những nghệ sĩ có nhân cách tử tế thường không bao giờ nói về chuyện tử tế mà chỉ âm thầm làm việc tử tế (và ngược lại).
Công việc thứ hai là nhóm lửa và giữ lửa trong trẻo cháy lâu dài. Có củi tốt và nhiều rồi, nghệ sĩ bắt đầu nhóm lửa. Đây là giai đoạn bắt tay vào sáng tác một tác phẩm, cũng là ở đầu một sự nghiệp sáng tác. Mỗi văn nghệ sĩ trong thao tác khởi đầu quá trình sáng tác của mình là rất khác nhau. Nhưng tựu trung lại có thể tóm lược trong mấy từ: Khổ sở mà sung sướng, vừa sáng suốt vừa mù lòa, hạnh phúc và khốn khổ v.v… Đây là giai đoạn sáng tạo thăng hoa tột cùng, thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tác. Còn nói một cách thực tế hơn đây là một quá trình may mắn khi đã hội đủ 3 yếu tố để một quá trình sáng tác bắt đầu: củi là vốn văn hóa, lửa là tài năng văn học, gió là những thôi thúc mang tính nhân văn của một nhân cách tử tế. (Tất nhiên, ở đây chỉ bàn đến những nghệ sĩ đích thực và quá trình sáng tác những tác phẩm văn học đích thực. Còn những ngụy nghệ sĩ, những tác phẩm văn học kém chất lượng thì không phải là đối tượng tìm hiểu của chúng tôi). Khi đã hội đủ 3 yếu tố Củi – Lửa – Gió kể trên, một quá trình lao động nghệ thuật gian khổ bắt đầu dài hay ngắn tùy thuộc vào phong cách, vào cá tính sáng tạo của từng… nghệ sĩ. Tô Hoài từng kể lại trong Tự truyện của mình: trước năm 1945, Tô Hoài và Nguyễn Huy Tưởng cùng chung một phòng trọ. Cùng là hai nhà văn tài năng, quá trình sáng tác của hai người rất khác nhau. Tô Hoài có thể cứ đi chơi, đi làm việc khác thi thoảng chỉ cần bỏ ra một đêm là xong một truyện ngắn và các báo bấy giờ săn đón xin được in truyện của ông, còn Nguyễn Huy Tưởng lại viết rất chậm, vật vã khổ sở phải hàng tháng mới viết xong một truyện ngắn. Vậy thì đây không phải chuyện tài năng mà là do cái “tạng” của từng nhà văn – nói rộng ra, đây là do cá tính sáng tạo độc đáo của từng nhà văn.
Nhưng tại sao cũng có tài năng và đam mê sáng tác, Vũ Trọng Phụng “rực cháy” khi liên tiếp cho ra đời những kiệt tác như Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê… trong một khoảng thời gian ngắn và tuổi đời còn rất trẻ, còn Nguyễn Xuân Khánh phải đến ngoài 70 tuổi mới làm văn đàn chao đảo, bạn văn sửng sốt, say mê với hai tác phẩm là Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn?
Phải chăng đây là chuyện kiếm củi nhóm lửa, thổi gió và giữ gìn cho ngọn lửa sáng tạo nghệ thuật cháy sáng và cháy bền? Bắt đầu sáng tác như là bắt đầu nhóm lửa, có người nhanh có người chậm. Giữ cho năng lực sáng tạo bùng nổ và kéo dài thật lâu bền như là chuyện giữ lửa, với mỗi nhà văn phụ thuộc vào điều kiện khách quan (môi trường sáng tác thuận lợi, hàng loạt vấn đề xã hội nóng bỏng bày ra trước mắt mời gợi nhà văn trả lời bằng tác phẩm v.v…) và điều kiện chủ quan của chính nhà văn (vốn văn hóa sâu rộng đến đâu, tài năng văn học của anh ta đến mức độ nào, tỉ lệ giữa trong và đục trong nhân cách của nhà văn ở mức độ nào, dao động, thay đổi khi đi qua hành trình cuộc đời, ít hay nhiều bão táp như thế nào? v.v…).
Chính bởi các điều kiện kể trên, có nhà văn có tác phẩm nổi tiếng rất sớm nhưng không giữ được lửa sáng tạo lâu bền, sau đó hoặc lụi tàn hoặc chỉ có những sáng tác thường thường bậc trung. Lại có nhà văn khởi đầu chậm, muộn, tác phẩm ban đầu chưa có gì đặc sắc nhưng lại rực sáng khi nhà văn đã phơ phơ đầu bạc.
Vậy làm thế nào để nhà văn có lửa sáng tạo cháy đều, cháy bền và cháy dữ dội? (còn chuyện cháy sớm hay muộn thì lại không phụ thuộc vào ý chí của chúng ta). Câu trả lời có thể thật đơn giản, dễ dàng nhưng thực tế lại không đơn giản và dễ dàng như thế. Suốt đời nhà văn phải tự học, tự tích lũy để kiếm được nhiều củi, nhóm lửa rồi phải luôn giữ gìn cho gió nhân cách trong lành, giúp cho lửa cháy to và cháy bền trong hành trình sáng tác của mình.
Nói thì dễ nhưng làm được như vậy thì khó lắm thay!

Nguyễn Đức Hạnh