Ấn Độ, mỗi bước chân mang nhiều huyền thoại

266

VNTN – Trong hành trình hơn hai vạn cây số dọc dài hai nước Ấn Độ – Nepal, khỏi phải nói về cảm xúc huyền bí và kỳ vĩ. Tuy nhiên, giữa ngồn ngộn tư liệu và ký ức đó, nhắm mắt lại, tôi trước hết bị ám ảnh bởi hai con vật vô cùng thân thiện, suốt dọc đường, cứ xoè tay ra là ta đón được chúng vào lòng mình: Sóc và chim.


Chim và sóc tràn ngập mọi nơi. Ga tàu hoả về đêm chim bu kín đặc, xua chúng cũng không thèm đi. Tán cây ven đường phủ kín vẹt xanh hoặc quạ đen. Bạn có thể gọi một đàn sóc nâu về, để chúng bò lên tay, lên cổ bạn mà lít chít vui đùa. Chim và sóc, rồi khỉ, voọc, hươu nai nhắc tôi nhớ đến một miền an lạc. Giống như tiểu thiên đường vậy.
Ở Ấn Độ tôi chưa bao giờ nghe thấy chuyện có ai đó ăn thịt chim, dù đã từng nghe người thật nghèo họ chấp nhận ăn thịt chuột cống. Có lẽ nếu gần 1,2 tỉ người (quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới) cùng ăn thì chỉ nửa ngày là Ấn Độ sẽ tiệt bóng chim trời.

 

Vui chơi với sóc – con vật thân thiện có mặt ở mọi nơi

Bờ tường, dây điện, panô, ápphích chỗ nào cũng đen kịt toàn bóng chim. Quạ đen, quạ khoang, chim gâu, chim ngói, chim cu, vẹt xanh… Mặc kệ, chim chóc cứ an nhiên tự tại mà cọ mỏ vào nhau tự tình, mà “khì khì” ngủ trên các lan can, bờ tường ngay trong tầm tay với của bạn. Những chú chim chân đỏ, mỏ đỏ, con nào cũng to bằng vốc tay, béo mẫm. Có đàn quạ, con nào cũng gần bằng chú gà mái ri đẻ… một lứa.
Sao thượng đế sinh ra các loài chim, nhiều loài ở Việt Nam, ở Ấn Độ, Tây Tạng, rồi Âu Châu, Trung Quốc, chỗ nào cũng giống hệt nhau nhỉ? Và có lẽ ông trời ban cho loài người ở các châu lục, các vùng lãnh thổ số chim chóc bằng nhau. Chỉ có điều, anh nào có cái miệng tham tàn và những hành vi tàn sát thiên nhiên khốc hại hơn thì anh ấy thiếu vắng bóng chim trời hơn trong đời sống của mình.

 

Có thể gặp những đám mây toàn quạ khoang
như thế này ở khắp nơi trên đất nước Ấn Độ

Người Ấn Độ hầu hết không ăn thịt bò, thịt chó… Chó hoang rất nhiều. Trên đường đi từ Delhi dọc Kuhsinaga rồi Naravasi để sang Nepal, có lần thấy người ta vứt cả dãy những con bò chết ven đường. Chó hoang cứ thế xé thịt ăn, rồi đàn quạ đen bu kín. Xe trờ đến, tôi bước ra. Quạ đen dịu dàng bay đi rồi lè vè vòng lại ngay.
Con bò đỏ au, trơ bộ xương sườn như một toà kiến trúc cong khum. Cạnh đó là vài con chó hoang bị ôtô chẹt chết. Quạ lại rẽ sang rỉa thịt chó. Dường như đây là cuộc cạnh tranh sinh tồn vẫn nguyên thuỷ nhất. Không phải trên quốc lộ, ở thủ đô, mà có cảm giác là một vườn quốc gia nào đó chưa từng có sự hiện diện của… con người!
Đi dọc sông Hằng, tận mục những thi thể được bó và khiêng ra chất lên củi lửa hoả thiêu, ai ngờ điều ám ảnh tôi lại vẫn là chim chóc. Người ta không ăn quạ, bởi họ nhìn thấy cái gì giống như tâm linh ở đó, ngoài lý do họ theo Đức Phật ngại sát sinh. Như người Tạng không xúc phạm kền kền, vì nó mang từng phần thi thể người vào dạ dày nó và bay lên trời.

 

Hoàng hôn trên sông Hằng

Cùng với quạ – loài chim có nhiều nhất ở sông Hằng – là giống chim nước gần giống hải âu. Mỏ dài, to bằng con bồ câu, lông trắng và mượt. Tôi hú hít lên một tiếng. Chim kéo đến trắng toát mấy con thuyền. Tiếng kêu lao xao. Ông lái đò da đen hát một điệu dân ca gì đó lý lơi như hò Nam Bộ nước ta. Chim càng đến nhiều.
Ông da đen, nụ cười trắng toát, lũ chim nước sạch sẽ và trắng lốp, xa xa là các đền đài đỏ au. Trông lũ chim tinh khôi, rắn rỏi, láu cá. Khách sạn tôi ở, thường xuyên có cảnh quạ khoang, quạ đen, vẹt xanh bu kín. Chĩa ống kính lên trời, thấy đen kịt, đen và trắng lấp lánh. Cò và quạ đậu trên lưng bò thong dong, đen kịt và trắng lốp.
Tổ quạ to rù, rối bung rơm rác trên các tán cổ thụ. Tại Bodh Gaya, khi chúng tôi đàm đạo với vị sư trụ trì ngôi chùa thờ Phật danh tiếng nhất thế giới ở Bồ đề Đạo tràng, bên tháp Đại Giác, bên gốc bồ đề linh thiêng nơi Đức Phật đã trải qua 49 ngày ngồi thiền trước khi đắc đạo… – khi ấy, không ai có thể nghe thấy tiếng của ai nữa, bởi trời chạng vạng, chim chóc kéo về lúc lỉu các tán cây, tiếng kêu râm ran đến điếc tai!

Đàn ông Ấn Độ theo đạo Xích râu dài tóc búi cuồn cuộn như rồng (họ không bao giờ cắt)

Thiên nhiên vô tận ôm ấp mình như thế, vốn như thế, như những gì tôi gặp ở bất cứ cánh đồng, góc phố, toà nhà hay công viên nào ở Ấn Độ – thế sao ở ta tận diệt một phần không thể thiếu của cuộc sống kia để rồi lên rừng xuống biển tìm lấy một con chim còn sót lại rồi “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”?
Ở ngôi đền tình yêu mang tên TajMahal (“bài thơ tình tuyệt mỹ khổng lồ khắc bằng đá”!) do Đức vua Sha Jhehan xây cho người đàn bà được yêu thương vào bậc nhất thế giới – Hoàng hậu Muhtag – chúng ta có thể thấy sóc bò ở khắp nơi.
Chúng ngồi vắt vẻo, cong đuôi dài, chắp hai tay nhỏ xíu vo vo trước mặt mình để ăn, nhằn, chọn đủ thứ thức ăn. Một hướng dẫn viên địa phương da đen, môi đỏ, lòng bàn tay đỏ, già nua cứ như phù thuỷ. Ông chun môi gọi sóc về, sóc kéo đến nâu xám cả nền gạch đỏ trong cung điện.
Ở Lâm Tì Ni (Nepal) – nơi Đức Phật sinh ra, khu vườn mà bất cứ tín đồ Phật giáo nào cũng ao ước một lần đặt chân đến, sóc vô tư ăn thức ăn ở các hốc cây bồ đề, là bàn thờ Phật tối cao.
Sóc chơi chung với các vị đạo sư ngồi thiền. Trên núi Linh Khứu, khỉ, voọc rời các tán cây rậm rịt, có thể khoác vai bạn chụp chung vài pô ảnh. Thủ đô Ấn Độ có rất nhiều cánh rừng nguyên vẹn, mênh mông. Ở đó, khỉ chạy thung thăng, có khi nó rẽ xe cộ sang đường mà không cần chờ đèn xanh…
Người Ấn Độ đã trưởng thành không gọi tên con sóc theo cách mà ta vẫn gọi bằng tiếng Anh, dù tiếng Anh là “quốc ngữ” thứ hai của họ. Họ cũng không tham gia chơi đùa với chim và sóc như du khách hay trẻ nhỏ Ấn Độ. Lý do đơn giản là: Từ thượng cổ đến giờ, Đức Phật vẫn ban cho họ một cõi an lạc mà con người và tự nhiên cứ thả sức sum vầy như thế.

Đỗ Doãn Hoàng